Đinh công đằng và thói quen dùng trị đau nhức xương khớp
Nhiều người khi gặp các vấn đề về đau nhức xương khớp, tê thấp thường tìm kiếm các bài thuốc dân gian lưu truyền từ thảo dược. Trong số đó, các loài thuộc chi Đinh công (danh pháp khoa học: Erycibe) hay còn gọi là đinh công đằng được nhắc đến khá phổ biến [1]. Không ít người cho rằng cây cỏ tự nhiên luôn lành tính, cứ đau nhiều là sắc uống đậm đặc để giảm đau nhanh hơn.
Trên thực tế, cây thuộc chi Đinh công từ lâu đã được ghi nhận trong y học cổ truyền để giảm đau khớp và điều trị viêm khớp dạng thấp [2], [3]. Một số loài quen thuộc hay được sử dụng bao gồm Erycibe obtusifolia và Erycibe schmidtii [2], [3]. Tuy nhiên, việc tự ý hái thuốc, gia tăng liều lượng hoặc dùng sai bộ phận có thể dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe.
Nhiều trường hợp người dùng gặp phải phản ứng bất thường như vã mồ hôi, co thắt phế quản, tiết nhiều nước dãi chỉ sau vài lần tự ý tăng liều sắc uống. Liệu việc sử dụng quá liều đinh công đằng thực sự nguy hiểm đến mức nào dưới góc nhìn khoa học thực nghiệm?
Độc tính nguy hiểm khi uống sai liều: Nguy cơ cường phó giao cảm
Khi sử dụng sai liều hoặc dùng phải các loài đinh công có hàm lượng độc tố cao, người bệnh có thể phải đối mặt với hội chứng ngộ độc cấp tính [1]. Các kết quả thử nghiệm sinh học cho thấy chiết xuất từ đinh công thể hiện rõ hoạt tính kích thích hệ cholinergic (hệ thần kinh phó giao cảm) [1].
Hệ phó giao cảm đóng vai trò điều khiển các phản xạ tự động của cơ thể như tiết dịch, điều hòa nhịp tim, co thắt phế quản và co cơ trơn. Khi các alkaloid trong cây kích hoạt quá mức thụ thể này, cơ thể sẽ rơi vào trạng thái cường phó giao cảm nghiêm trọng [1], [4].
Hậu quả là các tuyến ngoại tiết bị kích thích quá đà, làm tăng tiết mồ hôi, chảy nhiều nước dãi, dịch mũi và dịch tiêu hóa. Đồng thời, sự co thắt các cơ trơn đường hô hấp có thể gây khó thở, co thắt phế quản, suy hô hấp nếu không được cấp cứu y tế kịp thời.
Thủ phạm chính: Alkaloid Baogongteng A và Baogongteng C
Các phân tích hóa thực vật đã làm sáng tỏ nhóm hoạt chất gây độc chính có trong thân và lá các loài thuộc chi Đinh công [1]. Độc tính của nhóm thực vật này bắt nguồn từ các tropane alkaloid tự nhiên, nổi bật nhất là hai hợp chất mang tên Baogongteng A và Baogongteng C [1].
Nghiên cứu độc học cho thấy Baogongteng A và Baogongteng C là các hợp chất hóa học gây độc chủ yếu được tìm thấy qua kiểm nghiệm [1]. Đáng chú ý, loài Erycibe ellipptimba được ghi nhận có độc tính cao hơn hẳn do chứa lượng lớn alkaloid Baogongteng C [1]. Nếu người dùng nhầm lẫn loài này với các loài ít độc hơn, nguy cơ ngộ độc cấp tính sẽ gia tăng rõ rệt [1].
Bên cạnh khả năng gây co thắt phế quản và tăng tiết dịch do hoạt tính cholinergic, hoạt chất Baogongteng A phân lập từ loài Erycibe obtusifolia còn được xác định là một tropane alkaloid có hoạt tính gây hạ huyết áp và làm co đồng tử mắt rất mạnh [5], [6]. Việc hạ huyết áp đột ngột kết hợp co giật hoặc ức chế cơ vòng mắt là dấu hiệu điển hình của việc quá liều các alkaloid này [5], [6].
Các bằng chứng khoa học ghi nhận về độc tính của đinh công
Để đánh giá độc tính chính xác, một nghiên cứu công bố năm 2014 đã khảo sát chiết xuất cồn 40% của ba loài thuộc chi Đinh công gồm Erycibe obtusifolia, Erycibe schmidtii và Erycibe ellipptimba [1]. Kết quả thử nghiệm trên động vật và phương pháp sắc ký lỏng ghép khối phổ (HPLC-MS) cho thấy loài E. ellipptimba có mức độc tính cao nhất do tỉ lệ Baogongteng C chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng alkaloid [1].
Các tác giả đã đánh giá độc tính của toàn bộ alkaloid chiết xuất cũng như từng thành phần Baogongteng C tinh khiết [1]. Dữ liệu thực nghiệm xác nhận tổng alkaloid của cây này có hoạt tính cholinergic trực tiếp, đồng thời cảnh báo một số loài trong chi Erycibe thể hiện độc tính rất mạnh ở liều cao [1].
Trước đó, một nghiên cứu vào năm 1989 và công trình năm 1993 cũng tập trung nghiên cứu hoạt tính sinh học của Baogongteng A từ loài Erycibe obtusifolia [5], [4]. Khi thử nghiệm trên mắt thỏ, Baogongteng A và các dẫn xuất tương tự của nó thể hiện tác dụng làm co đồng tử rõ rệt, chứng minh khả năng tác động mạnh mẽ lên hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm [5], [4]. Hợp chất này từng được thử nghiệm làm thuốc điều trị bệnh glôcôm (tăng nhãn áp) nhờ tác dụng co đồng tử đặc trưng, song ngưỡng an toàn cực kỳ hẹp [5].
Ngược lại, một nghiên cứu so sánh năm 2013 cho thấy chiết xuất cồn 40% của Erycibe obtusifolia và Erycibe schmidtii hầu như không gây độc cấp tính ở mức liều thử nghiệm 5g/kg trên mô hình chuột [2]. Ở mức liều an toàn này, các chiết xuất thể hiện tác dụng chống viêm và giảm đau đáng kể thông qua việc ức chế tổng hợp chất gây viêm PGE2 trên mô hình túi khí carrageenan [2]. Thuốc cũng làm giảm số lần quặn đau do kích thích acid acetic và giảm phản ứng liếm đau do formalin ở động vật [2]. Điều này cho thấy ranh giới giữa liều có tác dụng giảm đau và liều gây ngộ độc phụ thuộc lớn vào loài cây, bộ phận thu hái và hàm lượng alkaloid tồn dư [1], [2].
Ngoài ra, nghiên cứu năm 2019 xác nhận loài Porana sinensis (thuộc cùng họ) thường được người dân thu hái để thay thế cho Erycibe obtusifolia và Erycibe schmidtii do nguồn dược liệu tự nhiên của hai loài này ngày càng suy giảm [2], [3]. Đáng lưu ý, các phân tích chuyên sâu bằng kỹ thuật khối phổ DART-MS phát hiện loài thảo dược thay thế này cũng chứa cả hai alkaloid Baogongteng A và Baogongteng C [3]. Do đó, người dùng vẫn hoàn toàn có nguy cơ ngộ độc alkaloid dù sử dụng cây thuốc thay thế [3].
Tổn thương gan và thận: Cảnh báo từ nghiên cứu độc tính bán trường diễn
Không dừng lại ở phản ứng ngộ độc tức thì của hệ thần kinh, độc tính tích lũy của cây đinh công còn ảnh hưởng trực tiếp tới các cơ quan nội tạng quan trọng [1]. Thói quen dùng thảo dược sắc uống kéo dài qua nhiều tuần liên tục để "trừ độc, trị khớp" khiến nhiều người đối mặt với suy giảm chức năng gan, thận mà không hề hay biết.
Trong nghiên cứu độc tính bán trường diễn đối với tổng alkaloid của loài Erycibe ellipptimba, các nhà khoa học đã quan sát các biến đổi bệnh lý ở động vật thí nghiệm khi cho dùng liều cao trong một khoảng thời gian [1]. Các chỉ số và tổn thương mô học ghi nhận được cho thấy gan và thận chính là hai cơ quan đích bị tổn thương nghiêm trọng nhất do độc chất của cây [1].
Thận là nơi phải lọc các chất chuyển hóa độc hại của alkaloid, trong khi gan là trung tâm chuyển hóa và giải độc chính của cơ thể [1]. Khi nồng độ Baogongteng A và C vượt quá khả năng xử lý, các tế bào nhu mô gan và cầu thận phải chịu tổn thương trực tiếp, gây suy giảm chức năng đào thải và dẫn tới ứ đọng độc chất trong cơ thể [1].
Hiểu lầm phổ biến khi dùng thảo dược trị viêm khớp
Một trong những sai lầm phổ biến nhất trong cộng đồng là đánh đồng nguồn gốc tự nhiên với sự lành tính tuyệt đối. Nhiều người khi bị đau khớp dai dẳng thường tự ý bốc thuốc nam truyền miệng, tự ý tăng gấp đôi lượng đinh công đằng vào ấm sắc để mong dứt cơn đau nhanh hơn.
Sự thật là chiết xuất từ đinh công đằng chứa nhiều thành phần có hoạt tính sinh học mạnh như scopoletin, scopolin, acid chlorogenic cùng các tropane alkaloid [1], [2]. Các nghiên cứu dược lý khẳng định tác dụng giảm đau của chiết xuất đinh công không bị đảo ngược bởi naloxone (một chất ức chế thụ thể opioid) [2]. Điều này minh chứng cơ chế giảm đau của thảo dược tác động qua con đường ức chế các chất trung gian gây viêm như prostaglandin E2, chứ không đơn thuần chỉ là thảo dược vô hại [2].
Sai lầm tiếp theo là cho rằng các loại cây đinh công nào mọc hoang cũng có tác dụng và độc tính như nhau. Nghiên cứu độc chất đã chứng minh các loài cùng chi Erycibe có hàm lượng chất độc khác hẳn nhau; chẳng hạn E. ellipptimba tích tụ Baogongteng C cao hơn nhiều và độc hơn đáng kể so với E. obtusifolia hay E. schmidtii [1]. Việc người dân tự thu hái hoặc mua dược liệu không rõ nguồn gốc rất dễ dẫn đến ngộ độc chết người do nhầm lẫn loài [1].
Những đối tượng cần đặc biệt thận trọng
Do độc tính thể hiện rõ nét trên hệ phó giao cảm và cơ quan nội tạng, một số nhóm người tuyệt đối phải cảnh giác cao độ [1]:
- Người mắc bệnh hen suyễn, viêm phế quản mạn tính hoặc bệnh phổi tắc nghẽn: Tác dụng kích thích cholinergic có thể kích phát cơn co thắt phế quản cấp dữ dội, làm ứ đọng đờm dãi gây ngạt thở [1].
- Người có tiền sử bệnh tim mạch hoặc huyết áp thấp: Baogongteng A có hoạt tính làm hạ huyết áp, dễ dẫn đến tụt huyết áp nghiêm trọng, ngất xỉu hoặc thiếu máu cơ tim cục bộ [6].
- Người suy giảm chức năng gan hoặc suy thận: Nghiên cứu cho thấy gan và thận là cơ quan đích bị ảnh hưởng trực tiếp bởi độc tố alkaloid ở liều cao [1]. Người bệnh dùng đinh công sắc đặc có nguy cơ đẩy nhanh tiến trình suy gan, suy thận [1].
- Phụ nữ mang thai, bà mẹ cho con bú và trẻ nhỏ: Hiện nay chưa có bất kỳ nghiên cứu độc học hay thử nghiệm lâm sàng nào khẳng định tính an toàn của các loài chi Đinh công trên nhóm đối tượng nhạy cảm này. Tất cả dữ liệu an toàn và độc tính hiện có mới chỉ dừng lại ở các thử nghiệm trên động vật (chuột, thỏ) và mô hình hóa học trong phòng thí nghiệm [1], [2], [5], [4]. Vì vậy, nhóm đối tượng này tuyệt đối không được tự ý dùng.
Lời khuyên an toàn và cách phòng tránh ngộ độc
Để bảo vệ tính mạng và sức khỏe, người dân khi có nhu cầu sử dụng đinh công đằng làm thuốc trị đau nhức xương khớp cần tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc y khoa. Không tự ý vào rừng chặt cây đinh công về nấu nước uống, ngâm rượu hoặc mua các gói dược liệu không nhãn mác tại các chợ cóc, mạng xã hội [1].
Dược liệu cần phải được phân loại, định danh thực vật chuẩn xác bởi các cơ sở y học cổ truyền được cấp phép nhằm loại trừ những loài có độc tính cao như Erycibe ellipptimba [1]. Đồng thời, liều lượng sử dụng phải theo chỉ định nghiêm ngặt của thầy thuốc chuyên môn, không được sắc quá liều hoặc dùng kéo dài nhiều tháng [1].
Nếu sau khi sử dụng bài thuốc có chứa đinh công mà xuất hiện các dấu hiệu cường phó giao cảm như: vã mồ hôi nhiều bất thường, chảy dãi liên tục, buồn nôn, khó thở do co thắt ngực, nhìn mờ hoặc co nhỏ con ngươi mắt, người bệnh cần lập tức ngưng dùng [1], [5], [6]. Hãy nhanh chóng đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất, mang theo mẫu dược liệu đã dùng để các bác sĩ kịp thời cấp cứu và trung hòa độc tính.

