Cây vòi voi (tên khoa học Heliotropium indicum) là loài thảo dược mọc hoang phổ biến khắp các vùng quê Việt Nam. Nhiều người thường hái loài cây này về sắc nước uống hoặc giã nát đắp ngoài da để chữa viêm xoang, phong thấp, mụn nhọt theo kinh nghiệm truyền miệng. Tuy nhiên, đằng sau công dụng chữa bệnh chưa qua kiểm chứng chặt chẽ là một mối nguy hại khôn lường đối với sức khỏe.

Các bằng chứng khoa học thực nghiệm và lâm sàng đã khẳng định cây vòi voi chứa nhóm độc chất nguy hiểm mang tên ancaloit pyrrolizidine (PA). Đây là những hợp chất tự nhiên có khả năng gây ngộ độc tế bào gan cấp tính và mạn tính, dẫn đến suy gan không thể hồi phục [1]. Việc sử dụng thảo dược này mà không có sự kiểm soát y khoa chặt chẽ tiềm ẩn nguy cơ phá hủy lá gan âm thầm theo thời gian.

Cây vòi voi và nhóm độc chất ancaloit pyrrolizidine

Ancaloit pyrrolizidine (PA) là các chất chuyển hóa thứ cấp độc hại được tìm thấy ở nhiều nhánh thực vật khác nhau qua quá trình tiến hóa độc lập [2]. Nghiên cứu công bố năm 2025 chỉ ra rằng cây vòi voi (Heliotropium indicum) có khả năng tổng hợp các ancaloit pyrrolizidine phức tạp ở các bộ phận trên mặt đất và các PA đơn giản ở phần rễ [2]. Quá trình sinh tổng hợp này diễn ra liên tục và dựa vào enzym homospermidine oxidase (HSO) cùng họ enzym amine oxidase chứa đồng (CuAO) [2].

Điều này đồng nghĩa với việc toàn bộ thân, lá và rễ của cây vòi voi đều chứa mầm mống độc chất gây hại gan [2]. Nghiên cứu cũng xác nhận rằng mặc dù hiệu suất tổng hợp PA ở rễ kém hơn so với các bộ phận trên mặt đất, độc tố vẫn hiện diện khắp mọi bộ phận của cây [2]. Do đó, quan niệm dân gian cho rằng chỉ dùng rễ hoặc chỉ dùng lá để tránh độc hoàn toàn sai lầm về mặt sinh học.

Trong tự nhiên, các loài thuộc chi Heliotropium đều ghi nhận sự hiện diện của nhóm độc tố này với hàm lượng đáng kể. Chẳng hạn, một nghiên cứu năm 2003 trên loài Heliotropium circinatum đã định lượng tổng hàm lượng ancaloit chiếm 0,15% trọng lượng khô của cây [3]. Trong đó, dạng base chiếm 12% và dạng N-oxide chiếm tới 88% [3]. Các ancaloit độc hại cụ thể được phân lập bao gồm europine (67,33%), heliotrine (16,34%), lasiocarpine (8,12%), heleurine (4,18%), echinatine (1,56%) và 7-angeylheliotrine (1,19%) [3].

Cơ chế phá hủy gan: Từ tế bào nội mô đến xơ gan

Độc tính của ancaloit pyrrolizidine không chỉ dừng lại ở mức kích ứng nhẹ mà tấn công trực tiếp vào cấu trúc mạch máu của gan [4]. Các ancaloit này được xếp vào nhóm hóa chất tự nhiên có độc tính gan rất cao, gây ra các tổn thương gan cấp tính và mạn tính không thể đảo ngược trên cơ thể người [1].

Nghiên cứu độc học protein năm 2018 sử dụng retrorsine – một ancaloit pyrrolizidine đại diện gây độc gan mạnh – trên chuột cống với liều độc 140 mg/kg [4]. Kết quả cho thấy độc chất này gây mất tế bào nội mô xoang gan và kích hoạt ba con đường độc tính dẫn đến chết tế bào nội mô mạch máu thông qua sự thay đổi của bảy protein đặc hiệu [4]. Khi các tế bào lót xoang gan bị phá hủy, lưu lượng máu nuôi dưỡng gan bị tắc nghẽn nghiêm trọng.

Hiện tượng này mở đường cho một bệnh lý nguy hiểm gọi là hội chứng tắc tĩnh mạch gan (veno-occlusive disease - VOD) [5]. Một báo cáo lâm sàng năm 1978 tại Ấn Độ đã ghi nhận sáu trường hợp mắc hội chứng tắc tĩnh mạch gan sau khi uống thảo dược [5]. Trong đó, ba bệnh nhân đã sử dụng loài thảo dược Heliotropium eichwaldii (cùng chi với cây vòi voi), vốn chứa ancaloit heliotrine cực độc [5]. Hậu quả là hai bệnh nhân rơi vào tình trạng suy gan tối cấp, trong khi bốn bệnh nhân còn lại biểu hiện bệnh cảnh xơ gan mất bù [5].

Bên cạnh tổn thương mạch máu, PA còn gây đột biến và biến dạng nhân tế bào gan. Trong thử nghiệm cho chuột đực trưởng thành ăn bột cây Heliotropium circinatum kéo dài suốt 20 tuần, tổn thương mô bệnh học nổi bật nhất là chứng phì đại nhân tế bào gan (hepatic megalocytosis) từ nhẹ đến trung bình, tiến triển tỷ lệ thuận theo liều dùng từ 1% đến 10% khẩu phần ăn [3]. Quá trình này cản trở sự phân chia tế bào bình thường, dẫn tới xơ hóa mô gan.

Bằng chứng từ các nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng

Nhiều công trình nghiên cứu trên động vật và người đã cung cấp bức tranh rõ ràng về mức độ nguy hiểm của ancaloit pyrrolizidine trong các loài thảo mộc dân gian.

Một nghiên cứu tầm soát quy mô công bố năm 1981 tại Sri Lanka đã khảo sát 50 cây thuốc cổ truyền trước thực trạng tỷ lệ mắc bệnh gan mạn tính và ung thư biểu mô tế bào gan rất cao tại châu Á và châu Phi [6]. Thử nghiệm cho chuột ăn ba loài cây dương tính với PA (Crotalaria verrucosa, Holarrhena antidysenterica, Cassia auriculata) đã gây ra các tổn thương gan điển hình: phá hủy tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy, sung huyết hoặc xuất huyết xoang gan quanh tĩnh mạch trung tâm, cùng hoại tử tế bào gan cục bộ hoặc quanh trung tâm [6]. Những tổn thương này cũng xuất hiện kèm theo ở phổi và thận của động vật thí nghiệm [6].

Không chỉ riêng chi Heliotropium, nhiều loài thảo dược chứa PA khác cũng được chứng minh gây độc gan mạn tính tương tự. Điển hình là cây comfrey Nga (Symphytum x uplandicum), vốn được dùng làm thuốc và thức ăn, đã được xác định chứa tám loại ancaloit pyrrolizidine thuộc nhóm gây độc gan và gây tổn thương gan mạn tính trên chuột [7]. Một loài thảo dược khác thường dùng giảm đau, tiêu thũng là Gynura japonica cũng bị phát hiện chứa tới 12 ancaloit pyrrolizidine, bao gồm các chất độc mạnh như seneciphylline, integerrimine và senecionine [1].

Trên lâm sàng người, độc tính của hợp chất chiết xuất từ cây vòi voi đã được ghi nhận trực tiếp qua thử nghiệm pha I công bố năm 1982 [8]. Hoạt chất indicine N-oxide tách từ cây vòi voi (Heliotropium indicum) được tiêm truyền tĩnh mạch trong 15 phút cho 37 bệnh nhân ung thư khối u đặc (15 nam, 22 nữ, tuổi trung bình 53) với các mức liều tăng dần từ 1 đến 9 g/m2, lặp lại sau mỗi 4 tuần [8]. Đánh giá qua 55 đợt điều trị cho thấy, ngoài độc tính giới hạn liều là giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu có tính tích lũy, thuốc còn gây độc tính buồn nôn, nôn, thiếu máu và rối loạn chức năng gan [8]. Tình trạng độc tính huyết học trầm trọng hơn hẳn ở nhóm bệnh nhân vốn đã có rối loạn chức năng gan từ trước [8].

Thử nghiệm lâm sàng này xác định liều dung nạp tối đa là 9 g/m2, liều khuyến cáo nghiên cứu là 7 g/m2, và nhóm nguy cơ cao phải khởi đầu ở mức 5 g/m2 đi kèm cảnh báo bắt buộc phải theo dõi sát sao số lượng bạch cầu và tiểu cầu [8]. Kết quả điều trị không ghi nhận đáp ứng toàn phần hay một phần nào, chỉ có hai ca ung thư hắc tố và ung thư buồng trứng cải thiện kéo dài 2 tháng ngắn ngủi [8]. Điều này cho thấy ranh giới an toàn của các hoạt chất từ cây vòi voi vô cùng hẹp.

Tổn thương ngoài gan: Nguy cơ tiềm ẩn đối với phổi và thận

Độc tính của ancaloit pyrrolizidine không chỉ khu trú tại gan mà còn tác động tiêu cực đến các cơ quan khác trong cơ thể. Do dòng máu lưu chuyển các chất chuyển hóa độc hại từ gan đi khắp cơ thể, phổi và thận là hai cơ quan chịu ảnh hưởng nặng nề tiếp theo [6].

Trong nghiên cứu chuột ăn Heliotropium circinatum suốt 20 tuần, ở các nhóm dùng liều cao, các nhà khoa học ghi nhận hiện tượng dày lớp áo giữa đáng kể tại các tiểu động mạch và động mạch phổi [3]. Sự dày lên của thành mạch phổi có thể dẫn đến tăng áp lực động mạch phổi mạn tính, gây suy tim phải và suy giảm chức năng hô hấp nghiêm trọng. Nghiên cứu thực nghiệm tại Sri Lanka cũng khẳng định các biến đổi mô bệnh học tương thích với độc tính của PA đã xuất hiện đồng thời ở cả phổi và thận của chuột thí nghiệm [6].

Những hiểu lầm tai hại khi sử dụng thảo dược truyền miệng

Rất nhiều người lầm tưởng rằng cây cỏ tự nhiên thì "lành tính" và không có tác dụng phụ. Sự thật là độc tính của cây vòi voi tiến triển âm thầm, tích lũy dần dần qua từng ngày mà không gây ra triệu chứng rầm rộ tức thì [3], [8]. Trong nghiên cứu chuột ăn H. circinatum, các con vật thí nghiệm không hề bị chết và cũng không biểu hiện các triệu chứng lâm sàng rõ rệt ra bên ngoài, nhưng khi giải phẫu vi thể, mô gan đã bị phì đại và mạch máu phổi đã bị tổn thương dày thành [3].

Hiểu lầm thứ hai là việc đun nấu hoặc sắc thuốc lâu sẽ làm bay hơi hay phân hủy hết chất độc. Các ancaloit pyrrolizidine là những hợp chất hữu cơ có cấu trúc vòng bền vững, không dễ bị vô hiệu hóa bằng nhiệt độ đun sôi thông thường. Do đó, việc tự ý hái cây vòi voi phơi khô sắc uống hàng ngày chữa viêm xoang, đau nhức xương khớp thực chất là hành động nạp chất độc phá hủy tế bào nội mô gan vào cơ thể một cách có hệ thống [4], [1].

Hiểu lầm thứ ba là cho rằng chỉ khi uống lượng lớn mới bị ngộ độc. Nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh độc tính của PA có tính chất tích lũy theo các đợt dùng lặp lại [8]. Việc dùng thảo dược kéo dài, dù với lượng nhỏ mỗi ngày, vẫn có thể dẫn tới tắc nghẽn tĩnh mạch gan và xơ gan mất bù nguy hiểm đến tính mạng [5].

Nhóm đối tượng tuyệt đối không được tiếp xúc với cây vòi voi

Bất kỳ ai sử dụng cây vòi voi qua đường uống đều đối mặt với rủi ro sức khỏe, nhưng một số nhóm đối tượng sau đây có nguy cơ ngộ độc cấp tính và biến chứng tử vong cao hơn:

  • Người có tiền sử bệnh gan: Những người bị viêm gan siêu vi B, C, gan nhiễm mỡ hoặc suy giảm chức năng gan sẵn có khi tiếp xúc với độc chất cây vòi voi sẽ khiến gan suy sụp nhanh chóng, độc tính huyết học cũng trầm trọng hơn rất nhiều [8].
  • Người từng trải qua hóa trị, xạ trị hoặc suy tủy: Các dữ liệu lâm sàng cho thấy độc tính của ancaloit từ cây vòi voi gây ức chế tủy xương dữ dội, làm giảm bạch cầu và tiểu cầu nặng ở những người có dự trữ tủy kém hoặc đã qua hóa xạ trị nặng [8].
  • Phụ nữ có thai, người đang cho con bú và trẻ em: Tế bào gan non nớt của thai nhi và trẻ nhỏ cực kỳ nhạy cảm với các chất gây đột biến tế bào và gây độc mạch máu [4], [6].
  • Người mắc bệnh lý tim mạch, hô hấp mạn tính: Độc tính gây dày thành động mạch phổi từ PA có thể làm trầm trọng thêm tình trạng tăng áp phổi và suy tim [3].

Lời khuyên y khoa và cách xử trí an toàn

Trước những bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về nguy cơ gây tổn thương gan không thể hồi phục, suy gan và khả năng liên quan đến ung thư tế bào gan [1], [6], người dân cần tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc an toàn:

  • Không tự ý sắc uống cây vòi voi: Ngừng ngay thói quen hái thân, rễ hoặc lá cây vòi voi đun nước uống để trị phong thấp, viêm xoang hay giải độc gan theo lời truyền miệng. Cây vòi voi không phải là vị thuốc an toàn để tự dùng tại nhà.
  • Thận trọng khi dùng ngoài da: Mặc dù đắp ngoài da hấp thu ít hơn đường uống, người dân không nên đắp cây tươi lên các vết thương hở, vết loét trợt da lớn vì độc chất vẫn có thể thấm qua hàng rào biểu bì vào máu.
  • Đi khám chuyên khoa khi có dấu hiệu bất thường: Nếu từng sử dụng cây vòi voi hoặc các bài thuốc nam không rõ nguồn gốc và xuất hiện các dấu hiệu như mệt mỏi kéo dài, chán ăn, buồn nôn, vàng da, vàng mắt, nước tiểu sẫm màu hoặc trướng bụng, cần đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa để xét nghiệm men gan và siêu âm mạch máu gan [8], [5].
  • Luôn tham vấn bác sĩ: Khi gặp các vấn đề sức khỏe mạn tính như đau nhức xương khớp hay viêm mũi dị ứng, người bệnh cần đi khám tại các bệnh viện uy tín để được chỉ định phác đồ khoa học, không tự ý tìm đến các loài cây cỏ chứa độc tố nguy hiểm.

Cây vòi voi là một minh chứng rõ ràng cho thấy không phải thảo dược tự nhiên nào cũng vô hại. Sự hiện diện của các ancaloit pyrrolizidine biến loài cây này thành mối đe dọa trực tiếp đối với lá gan và mạch máu phổi [3], [4]. Để bảo vệ sức khỏe bản thân và gia đình, người dân cần nâng cao cảnh giác, loại bỏ thói quen dùng thảo dược truyền miệng thiếu căn cứ khoa học và luôn tuân thủ tư vấn từ nhân viên y tế có chuyên môn.