Bối cảnh và nhầm lẫn thường gặp giữa các loài cây cỏ
Trong dân gian, nhiều loại cây mọc hoang quanh vườn nhà hoặc bờ ruộng thường được người dân thu hái làm thuốc trị đau nhức xương khớp, bồi bổ cơ thể hoặc giải độc. Cỏ xước là tên gọi rất quen thuộc, xuất hiện nhiều trong các bài thuốc cổ truyền. Tuy nhiên, người dân thường dễ nhầm lẫn cỏ xước thông thường với các loài cây cùng họ Rau dền (Amaranthaceae), tiêu biểu như cây đơn đỏ ngọn (thường được gắn với tên khoa học Cyathula prostrata).
Sự nhầm lẫn xuất phát từ việc các cây này có dạng thân thảo, mọc thành bụi hoặc bò lan, cụm hoa mọc thành bông đứng mang những chiếc lá bắc hoặc gai nhỏ dễ bám vào quần áo người đi qua. Khi thấy ngọn cây hoặc thân có ánh đỏ tía, người đi hái thuốc lập tức gọi chung là đơn đỏ ngọn hoặc xếp chung một nhóm với cỏ xước, dùng thay thế bừa bãi.
Câu trả lời ngắn: Khác nhau thế nào?
Cỏ xước thông thường được định danh khoa học là Achyranthes aspera, thuộc chi Achyranthes, trong khi đơn đỏ ngọn thuộc chi Cyathula (loài Cyathula prostrata). Đây là hai chi thực vật hoàn toàn tách biệt trong cùng một họ thực vật.
Xét về mặt dữ liệu khoa học hiện hành, chưa có nghiên cứu trong tài liệu đối chiếu trực tiếp hình thái học và định lượng saponin giữa Cyathula prostrata với Achyranthes aspera. Toàn bộ bằng chứng khoa học hiện có tập trung xác thực đặc điểm di truyền, thành phần hoạt chất saponin và độc tính của cỏ xước thông thường (Achyranthes aspera) cùng các loài trong chi cỏ xước [1, 2, 3]. Do đó, người dân không được tự ý xem hai loài cây này là một hoặc tự ý hoán đổi công dụng cho nhau.
Cơ chế tác động và thành phần hoạt chất của cỏ xước
Cỏ xước (Achyranthes aspera) chứa nhiều nhóm hợp chất chuyển hóa thứ cấp có hoạt tính sinh học rõ rệt. Phân tích hóa thực vật chỉ ra chiết xuất của loài cây này chứa saponin, alkaloid, glycoside và flavonoid [1]. Trong đó, saponin và steroid là hai nhóm thành phần nổi bật, quyết định các tác dụng dược lý truyền thống [2].
Cơ chế sinh học của cỏ xước thể hiện qua hoạt tính chống oxy hóa mạnh, quét sạch các gốc tự do ngoại sinh, đồng thời ức chế màng tế bào của nhiều chủng vi khuẩn [1]. Ở cấp độ mô học dưới kính hiển vi điện tử kết hợp quang phổ khối, các hợp chất steroid và saponin tập trung đậm đặc nhất tại vùng vỏ rễ (cortex) và tia tủy (medullary ray) [2]. Những hoạt chất saponin đặc trưng bao gồm ginsenoside Ro, bidentatoside II, achyranthoside B và hợp chất steroid như (25S)-inokosterone-20,22-acetonide [2].
Đối với tế bào tăng sinh bất thường, chiết xuất cồn của lá cỏ xước can thiệp vào cơ chế phiên mã gene. Chúng ức chế có chọn lọc sự biểu hiện của các metalloprotease (MMP-1 và MMP-2), chất ức chế metalloprotease (TIMP-2), cùng các yếu tố kích thích tạo mạch máu mới như VEGF-A và VEGF-B [3]. Nhờ sự can thiệp này, tế bào bất thường bị cắt nguồn nuôi dưỡng và giảm khả năng xâm lấn mô xung quanh [3].
Nghiên cứu khoa học nói gì về cỏ xước thông thường?
Các nghiên cứu sinh học phân tử và dược lý học hiện đại đã phân tích sâu các đặc tính của cây cỏ xước (Achyranthes aspera):
Nghiên cứu công bố năm 2020 tiến hành giải trình tự hệ gene lục lạp thế hệ mới trên 3 loài thuộc chi cỏ xước gồm Achyranthes aspera, Achyranthes bidentata và Achyranthes longifolia [4]. Kết quả cho thấy hệ gene lục lạp của Achyranthes aspera có chiều dài 151.486 cặp base (bp), mang cấu trúc bảo tồn cao gồm một cặp đoạn lặp đảo ngược (IR) dài 25.145 bp, vùng bản sao đơn lớn (LSC) dài 83.933 bp và vùng bản sao đơn nhỏ (SSC) dài 17.263 bp [4]. Hệ gene này mã hóa 127 gene (8 gene rRNA, 37 gene tRNA và 82 gene chức năng) [4]. Phân tích phả hệ di truyền xác nhận chi Achyranthes là đơn ngành, họ hàng gần nhất với chi Alternanthera, cung cấp bằng chứng chuẩn xác để phân biệt cỏ xước với các thực vật chi khác [4].
Nghiên cứu công bố năm 2023 đánh giá chiết xuất methanol và chiết xuất nước từ cỏ xước Achyranthes aspera [1]. Kết quả định tính và định lượng xác nhận sự hiện diện của saponin, alkaloid, glycoside và flavonoid [1]. Chiết xuất methanol cho khả năng quét gốc tự do DPPH mạnh hơn chiết xuất nước, đồng thời đạt hiệu quả diệt khuẩn ở nồng độ 100 mcg/ml đối với cả vi khuẩn Gram âm (Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa) lẫn vi khuẩn Gram dương (Bacillus subtilis, Staphylococcus aureus) [1]. Chiết xuất này cũng thúc đẩy tế bào Vero tăng sinh, hỗ trợ quá trình làm lành vết thương trong điều kiện ống nghiệm [1].
Nghiên cứu công bố năm 2017 sử dụng phương pháp vi phẫu laser kết hợp sắc ký lỏng siêu cao áp ghép khối phổ (UHPLC-QTOF MS) để so sánh mô rễ của Achyranthes aspera và Achyranthes bidentata [2]. Kết quả cho thấy hai loài cùng chi này chứa các hợp chất saponin và steroid tương đồng hoàn toàn như ginsenoside Ro, bidentatoside II, achyranthoside B, chứng minh hai loài cỏ xước này có thể thay thế chất lượng cho nhau [2]. Tuy nhiên, nghiên cứu không ghi nhận dữ liệu đối chiếu nào đối với loài đơn đỏ ngọn Cyathula prostrata [2].
Nghiên cứu công bố năm 2003 thử nghiệm chiết xuất ethanol từ rễ và phần trên mặt đất của Achyranthes aspera ở liều 100 mg/đĩa bằng phương pháp khuếch tán [5]. Hoạt tính kháng khuẩn chống lại Bacillus subtilis, Bacillus pumilus, Proteus vulgaris và kháng nấm (Cryptococcus neoformans, Aspergillus flavus) cho tác dụng tương đương mức đối chứng của kháng sinh Cotrimoxazole (30 mg/đĩa) và kháng nấm Clotrimazole (30 mg/đĩa) [5].
Nghiên cứu công bố năm 2010 khảo sát tác động kháng tăng sinh của chiết xuất lá cỏ xước trong methanol trên các dòng tế bào ung thư người [3]. Chiết xuất gây độc phụ thuộc vào liều và thời gian, trong đó tế bào ung thư tuyến tụy nhạy cảm vượt trội so với tế bào ung thư ruột kết, vú, phổi hay tuyến tiền liệt [3]. Phân đoạn tách chiết ký hiệu F3 qua cột sắc ký silica gel thể hiện nồng độ hoạt tính kháng tăng sinh cao nhất [3].
Nghiên cứu công bố năm 2014 phân tích thành phần dinh dưỡng và độc tính bán cấp của thực phẩm bổ sung chứa thành phần chính là Achyranthes aspera [6]. Mẫu kiểm nghiệm cho thấy độ ẩm 4,05%, protein 20,54%, chất béo 0,903%, tro 20,25%, carbohydrate 54,26% và năng lượng đạt 294 Kcal [6]. Hàm lượng vitamin gồm B1 (0,27 mg/100g), B2 (0,28 mg/100g), B3 (0,58 mg/100g), B6 (0,27 mg/100g) và B9 (39 mcg/100g) [6]. Các khoáng chất gồm natri (1119,67 mg/kg), canxi (5385,23 mg/kg), magie (5446,08 mg/kg), kali (1343,6 mg/kg), clo (675880,73 mg/kg), phốt pho (1447,5 mg/kg), sắt (283,05 mg/kg), kẽm (48,37 mg/kg) [6]. Động vật thử nghiệm tăng cân đều đặn, chỉ số huyết học cải thiện rõ rệt: hemoglobin tăng từ 9,133 lên 10,96, hồng cầu tăng từ 3,11 lên 3,6, bạch cầu từ 5,68 lên 5,73 và tiểu cầu tăng từ 245 lên 319 [6].
Bằng chứng về nguy cơ: Ai nên thận trọng?
Mặc dù có nhiều hoạt tính sinh học, cỏ xước thông thường tiềm ẩn độc tính sinh sản đáng kể đã được ghi nhận qua các thực nghiệm động vật:
Nghiên cứu công bố năm 2021 trên phôi và thai chuột cống cho thấy chiết xuất cồn từ lá Achyranthes aspera ở liều cao 1000 mg/kg gây độc tính phát triển [7]. Cân nặng thai ở nhóm dùng liều 1000 mg/kg giảm xuống còn 2,32 ± 0,13 g (so với nhóm đối chứng là 2,91 ± 0,15 g) [7]. Chiều dài đầu mông (CRL) của thai giảm còn 2,31 ± 0,1 cm (so với đối chứng là 2,82 ± 0,17 cm) kèm theo sự sụt giảm trọng lượng bánh nhau [7]. Đáng chú ý, số lượng điểm làm tổ của phôi giảm rõ rệt và số điểm tiêu thai (resorptions) tăng vọt ở liều 1000 mg/kg [7]. Điều này phản ánh rõ cơ chế chống làm tổ và làm sảy thai của dược liệu [3, 6].
Nghiên cứu công bố năm 2010 phân lập một protein trọng lượng phân tử 58-kDa (Ap) từ rễ cây Achyranthes aspera và thử nghiệm trên chuột nhắt trắng đực với liều 25 mg/kg thể trọng mỗi ngày trong 35 ngày [8]. Kết quả cho thấy protein này gây độc tinh trùng nghiêm trọng tương đương với hợp chất đối chứng gossypol (dùng liều 40 mg/kg thể trọng) [8]. Thử nghiệm làm biến đổi hoạt tính các enzyme tinh hoàn như HMG CoA reductase, 3beta-HSD, 17beta-HSD, glucose-6-phosphate dehydrogenase, làm giảm nồng độ cholesterol và testosterone huyết thanh, đồng thời phá hủy tinh trùng ngay cả sau khi bị phân cắt protein [8].
Do đó, các nhóm đối tượng sau tuyệt đối phải thận trọng và không tự ý dùng cỏ xước:
- Phụ nữ mang thai hoặc đang có kế hoạch thụ thai: Cây có tác dụng gây sảy thai, làm giảm vị trí làm tổ và tiêu biến phôi [3, 6].
- Nam giới đang trong độ tuổi sinh sản hoặc đang điều trị hiếm muộn: Nguy cơ nhiễm độc tinh trùng và suy giảm hormone sinh dục nam [8].
- Người đang dùng thuốc điều trị bệnh nền hoặc chuẩn bị phẫu thuật: Cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa do nguy cơ tương tác thuốc chưa lường trước.
Đối với loài đơn đỏ ngọn Cyathula prostrata, hiện chưa có dữ liệu nghiên cứu đầy đủ về thành phần hóa sinh và độc tính trong các nguồn tài liệu trên. Người dân không được suy diễn rằng loài cây này an toàn hay có tác dụng tương tự cỏ xước.
Hiểu lầm thường gặp khi dùng dược liệu hoang dã
Hiểu lầm phổ biến nhất là cho rằng mọi loại cây có hoa dạng gai bám hoặc có màu thân đỏ tía đều có tính năng bổ máu, mạnh gân xương như nhau. Thực tế, chi Achyranthes và chi Cyathula phân lập di truyền và chứa các hoạt chất khác nhau [4].
Hiểu lầm thứ hai là quan niệm thảo dược tự nhiên hoàn toàn không có độc. Các bằng chứng thực nghiệm đã chứng minh rõ ràng liều cao cỏ xước có thể gây teo thai, tiêu phôi và phá hủy tinh trùng [6, 8]. Việc tự ý sắc uống lượng lớn tại nhà để chữa đau khớp có thể dẫn đến hậu quả nguy hiểm cho sức khỏe sinh sản.
Hướng dẫn áp dụng thực tế để tránh nhầm lẫn
Để sử dụng an toàn và đạt hiệu quả phòng trị bệnh, người dân cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Xác định rõ nguồn gốc dược liệu: Nhận dạng cây qua các đặc điểm thân, lá, hoa của đúng loài cỏ xước Achyranthes aspera đã được khoa học chuẩn hóa [4]. Tuyệt đối không thu hái lẫn lộn đơn đỏ ngọn (Cyathula prostrata) nếu không có sự hướng dẫn của chuyên gia thực vật học.
- Liều lượng và thời điểm dùng: Dữ liệu hiện hành không đưa ra khuyến cáo liều dùng tự do cho người. Mọi người chỉ nên dùng cỏ xước với lượng vừa phải theo đúng bài thuốc đã được cơ quan y tế chứng nhận hoặc qua hướng dẫn của bác sĩ y học cổ truyền.
- Chế biến hợp lý: Các nghiên cứu cho thấy dạng chiết xuất cồn hoặc nước đem lại hiệu quả phân giải saponin và kháng khuẩn khác nhau [2, 5]. Khi sử dụng cần sơ chế sạch sẽ, đảm bảo vệ sinh vi sinh vật như tiêu chuẩn kiểm định [6].
- Đi khám bác sĩ: Cỏ xước không thể thay thế cho các phác đồ chữa ung thư hay thuốc kháng sinh chuyên biệt ở người [2, 4]. Khi có triệu chứng bệnh lý, cần đến bệnh viện khám để được chỉ định điều trị đúng đắn.
Lời kết
Cỏ xước thông thường (Achyranthes aspera) là cây thuốc chứa dồi dào saponin và khoáng chất quý với nhiều tiềm năng sinh học như kháng khuẩn, chống gốc tự do. Tuy nhiên, nó hoàn toàn khác biệt về mặt chi thực vật với đơn đỏ ngọn (Cyathula prostrata). Người dân cần cẩn trọng nhận diện, tránh thói quen dùng thảo dược bừa bãi và luôn tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.

