Nhiều người có thói quen tìm kiếm các loại thảo dược tự nhiên để đắp, bôi ngoài da với hy vọng làm dịu vết thương, mụn nhọt hay giảm sưng tấy. Hồ điệp hoa (hay còn gọi là củ bạch liễm, rễ cây Ampelopsis japonica) là một trong những vị thuốc cổ truyền thường được truyền tai về khả năng kháng khuẩn, chống viêm. Liệu việc tự ý bôi loại thảo mộc này lên da có thực sự giúp giảm viêm hiệu quả hay lại đẩy người dùng vào nguy cơ viêm da tiếp xúc?

Câu trả lời ngắn gọn: Các bằng chứng khoa học cho thấy chiết xuất hồ điệp hoa mới chỉ ghi nhận khả năng giảm viêm trong các thử nghiệm tiền lâm sàng trên động vật. Trong khi đó, các thử nghiệm thực tế trên người chỉ ra rằng tỷ lệ gây phản ứng kích ứng và dị ứng tiếp xúc của dược liệu này lại ở mức đáng báo động.

Cơ chế tác động: Giảm viêm trên lý thuyết nhưng tiềm ẩn nguy cơ thực tế

Tình trạng viêm da xảy ra khi hệ miễn dịch phản ứng quá mức với các tác nhân gây hại, dẫn đến sưng nề, đỏ rát và tổn thương mô biểu bì. Để kiểm soát hiện tượng này, mục tiêu can thiệp là ức chế các chất gây viêm như TNF-alpha hay interleukin, từ đó giảm tình trạng xâm nhập của tế bào miễn dịch tại chỗ.

Chiết xuất từ rễ hồ điệp hoa chứa các hoạt chất có khả năng can thiệp vào chu trình sản sinh các yếu tố gây viêm tế bào. Tuy nhiên, khi một thảo dược thô được bôi trực tiếp lên bề mặt da, các phức hợp hữu cơ chưa qua tinh chế dễ dàng đóng vai trò như các dị nguyên kích hoạt phản ứng miễn dịch dị ứng, hoặc gây phá vỡ hàng rào bảo vệ tự nhiên, dẫn tới viêm da tiếp xúc kích ứng.

Nghiên cứu tiền lâm sàng: Hiệu quả kháng viêm trên mô hình chuột

Một nghiên cứu công bố năm 2022 đã tiến hành đánh giá tiềm năng chống viêm của chiết xuất rễ Ampelopsis japonica (EEAJ) trên chuột thực nghiệm bị viêm da tiếp xúc gây ra bởi hóa chất 1-fluoro-2,4-dinitrofluorobenzene [1].

Thử nghiệm được thực hiện trên tổng cộng 38 con chuột Balb/c, chia thành 5 nhóm gồm: nhóm bình thường (6 con), nhóm mô hình viêm da (8 con), hai nhóm điều trị bằng chiết xuất ethanol rễ hồ điệp hoa với liều 3 mg/kg hoặc 30 mg/kg (8 con mỗi nhóm), và một nhóm dùng thuốc đối chứng dexamethasone liều 7,5 mg/kg (8 con) [1]. Các chất được bôi ngoài da trong vòng 6 ngày liên tục [1].

Kết quả cho thấy, liều 30 mg/kg chiết xuất rễ hồ điệp hoa giúp ngăn chặn đáng kể hiện tượng bong vảy, ban đỏ và sự gia tăng khối lượng da [1]. Chiết xuất này cũng ức chế tình trạng tăng sinh biểu mô cùng sự xâm nhập của tế bào miễn dịch do hóa chất gây ra [1]. Đồng thời, nồng độ các chất gây viêm như TNF-alpha, IL-6 và MCP-1 giảm rõ rệt, mang lại hiệu quả tương đương nhóm dùng dexamethasone [1]. Dù vậy, đây mới chỉ là thử nghiệm trên loài gặm nhấm trong điều kiện phòng thí nghiệm được kiểm soát nghiêm ngặt [1].

Bằng chứng lâm sàng: Nguy cơ viêm da tiếp xúc ở người

Trái ngược với kỳ vọng chống viêm, một thử nghiệm lâm sàng công bố năm 2014 thực hiện trên 30 tình nguyện viên người lớn nhằm đánh giá độ an toàn của các vị thuốc cổ truyền dùng ngoài da đã ghi nhận nguy cơ đáng lo ngại từ dược liệu này [2].

Nghiên cứu sử dụng phương pháp dán da (patch test) và thử nghiệm quang dán da (photopatch test) với 6 vị thảo mộc đơn lẻ cùng bài thuốc Bạch Chỉ Cao [2]. Kết quả thử nghiệm dán da cho thấy, có tới 25 trong số 30 người (chiếm tỷ lệ lớn) xuất hiện ít nhất một phản ứng dương tính [2]. Đáng chú ý nhất, có tới 60,0% người tham gia có phản ứng kích ứng đối với rễ Ampelopsis japonica (hồ điệp hoa/bạch liễm) [2].

Tỷ lệ gây phản ứng của vị thuốc này cao vượt trội so với các vị thuốc khác cùng thử nghiệm như bạch cập (16,7%), bạch truật (10,0%), bạch chỉ (3,3%) hay tế tân (3,3%) [2]. Khi thực hiện thử nghiệm quang dán da, hồ điệp hoa tiếp tục cho kết quả dương tính ở 13,3% số người tham gia [2]. Tác giả nghiên cứu kết luận rằng rễ hồ điệp hoa mang nguy cơ tiềm ẩn rất lớn gây viêm da tiếp xúc, cảnh báo người dùng phải hết sức cẩn trọng khi sử dụng các sản phẩm bôi ngoài da có chứa thành phần này [2].

Nguy cơ tổn thương da kéo dài do viêm da tiếp xúc dị ứng

Viêm da tiếp xúc là tình trạng tổn thương da phổ biến nhưng thường bị xem nhẹ hoặc chẩn đoán nhầm [3]. Theo y văn tổng kết, viêm da tiếp xúc bao gồm hai thể: thể kích ứng (chiếm khoảng 80% trường hợp) và thể dị ứng (chiếm khoảng 20% trường hợp) [3]. Việc tiếp xúc thường xuyên với các chất gây dị ứng cùng tình trạng hàng rào bảo vệ da bị suy giảm làm tăng mức độ mẫn cảm ở bệnh nhân [3].

Khi bôi các chất gây kích ứng hoặc dị ứng lên vết thương hở, vết thương có thể chuyển biến nặng và trở nên khó lành [4]. Báo cáo lâm sàng năm 2011 mô tả một bệnh nhân nam 73 tuổi bị vết thương không lành ở cẳng tay suốt 4 tuần [4]. Tổn thương ban đầu chỉ là một vết côn trùng cắn, nhưng do người bệnh tự ý dùng dung dịch sát trùng bôi trong 3 tuần, vết thương tiến triển thành ổ loét bờ không đều, xung quanh ban đỏ, trợt loét, đóng vảy vàng ở trung tâm kèm cảm giác ngứa ngáy và bỏng rát dữ dội [4]. Sau khi ngừng thuốc bôi và chuyển sang đắp gạc nước muối sinh lý không băng kín, vết thương mới dần hồi phục [4]. Thử nghiệm dán da sau đó khẳng định bệnh nhân bị viêm da tiếp xúc dị ứng [4].

Không chỉ thảo mộc hay hóa chất sát trùng cũ, các chất bôi ngoài da thông dụng khác cũng có thể gây phản ứng tương tự. Báo cáo năm 2024 ghi nhận trường hợp bé gái 10 tuổi có vết thương trầy xước nông ở đầu gối, sau 3 đến 4 ngày bôi mỡ povidone-iodine, tổn thương da đã lan rộng từ 2 cm ban đầu lên 10 cm, kèm đau rát và tiết dịch ít [5]. Tình trạng này được chẩn đoán là viêm da tiếp xúc dị ứng do povidone-iodine và chỉ lành hẳn sau 10 ngày ngừng bôi thuốc và dùng dưỡng ẩm phục hồi [5].

Ngoài ra, viêm da tiếp xúc còn rất dễ bị nhầm lẫn với tình trạng nhiễm trùng vết mổ do đều có biểu hiện ban đỏ, phù nề [6]. Một nghiên cứu năm 2021 về viêm da tiếp xúc sau phẫu thuật ghi nhận tỷ lệ mắc là 2,8% ở bệnh nhân dùng keo dán da [6]. Điển hình là trường hợp bệnh nhân nữ 37 tuổi xuất hiện ban đỏ, mụn nước và ngứa xung quanh vết mổ ở tuần thứ 4 [6]. Một bệnh nhân nữ 62 tuổi khác cũng bị sưng đỏ, phỏng nước xung quanh vết phẫu thuật ở tuần thứ 6, phải mất 6 tuần điều trị bằng thuốc mỡ bôi ngoài chứa steroid và kháng histamine đường uống mới khỏi hoàn toàn [6].

Hiểu lầm thường gặp khi dùng thảo dược bôi ngoài da

Nhiều người mặc định thảo dược tự nhiên là hoàn toàn lành tính và không có tác dụng phụ. Thực tế, nhiều biến thể bài thuốc cổ truyền chứa các hợp chất phức tạp từ nhiều loại cây khác nhau, chưa qua tinh chế hay kiểm nghiệm lâm sàng đối chứng [2]. Các thành phần này hoàn toàn có thể trở thành dị nguyên kích ứng mạnh [2].

Hiểu lầm thứ hai là quan niệm "càng sưng viêm càng phải đắp lá để hút mủ, kháng khuẩn". Khi bôi một hoạt chất dễ gây mẫn cảm như hồ điệp hoa lên vùng da tổn thương, người bệnh có thể phải đối mặt cùng lúc với tình trạng bội nhiễm và viêm da tiếp xúc, khiến vết loét lan rộng và khó điều trị hơn [2, 3]. Cần lưu ý thêm, các tổng quan y khoa cũng chỉ ra rằng việc sử dụng thuốc kháng sinh bôi tại chỗ không giúp làm giảm tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ trong giai đoạn chu phẫu (RR 2,79; p = 0,24) [7]. Do đó, việc tự ý bôi các chất kháng khuẩn không rõ liều lượng chỉ làm tăng nguy cơ mẫn cảm da không cần thiết [3, 7].

Bên cạnh đó, một số nghiên cứu trên các cây họ thảo dược khác như cao lương hoang (Humulus japonicus) cũng ghi nhận khả năng giảm viêm da tiếp xúc kích ứng ở chuột thông qua giảm các cytokine IL-1beta, TNF-alpha hay enzyme COX-2 [8]. Tuy nhiên, các kết quả này chỉ dừng lại ở mô hình tế bào và chuột, hoàn toàn chưa thể coi là bằng chứng xác thực để người dân tự áp dụng trực tiếp lên da người [8].

Ai cần đặc biệt thận trọng?

Dựa trên dữ liệu lâm sàng hiện có, các nhóm đối tượng sau đây tuyệt đối không nên tự ý bôi hồ điệp hoa hay các chế phẩm thô từ thảo mộc:

  • Người có làn da nhạy cảm hoặc tiền sử viêm da dị ứng: Tỷ lệ phản ứng kích ứng lên tới 60,0% ở người bình thường cho thấy nguy cơ bùng phát viêm da ở nhóm này là cực kỳ cao [2].
  • Người đang có vết thương hở, vết mổ, vết côn trùng cắn: Hàng rào bảo vệ da bị phá vỡ làm tăng khả năng thẩm thấu dị nguyên, dễ biến một vết xước nhỏ thành ổ loét mạn tính khó lành [2, 3].
  • Trẻ em: Làn da của trẻ nhỏ rất mỏng manh và dễ phản ứng với các hoạt chất bôi ngoài da, việc tự ý dùng thuốc hay thảo mộc không rõ nguồn gốc có thể gây dị ứng lan tỏa [5].
  • Chưa có nghiên cứu an toàn trên phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú: Tuyệt đối không tự ý áp dụng bôi ngoài da diện rộng vì thiếu dữ liệu y khoa chuẩn xác.

Hướng dẫn chăm sóc da đúng cách và khuyến nghị thực tế

Hiện nay, khoa học chưa xác định được liều lượng an toàn, tỷ lệ pha chế hay dạng bào chế chuẩn mực của hồ điệp hoa để sử dụng trực tiếp trên người. Do đó, người dân không nên tự ý tìm mua thảo mộc thô để đắp hoặc bôi lên các vùng da đang bị viêm, mụn hoặc có vết thương.

Đối với các vết thương nhỏ ngoài da, việc chăm sóc cơ bản nên ưu tiên các phương pháp đơn giản đã được y học kiểm chứng như rửa sạch nhẹ nhàng bằng nước muối sinh lý hoặc dung dịch vệ sinh phù hợp [4]. Nếu có vết mổ phẫu thuật, người bệnh cần tuân thủ hướng dẫn chăm sóc của cơ sở y tế và theo dõi kỹ các biểu hiện bất thường [6].

Khi xuất hiện tình trạng vùng da bôi thuốc bị đỏ rát, ngứa ngáy nhiều, xuất hiện phỏng nước hoặc vết loét ngày càng lan rộng, cần lập tức ngừng tất cả các sản phẩm bôi ngoài da và đến khám chuyên khoa da liễu để được chẩn đoán, điều trị kịp thời [1, 2, 6].

Lời kết

Mặc dù chiết xuất hồ điệp hoa cho thấy triển vọng ức chế các phản ứng viêm trên mô hình chuột thí nghiệm [1], dữ liệu thử nghiệm lâm sàng trên người lại chứng minh tỷ lệ gây viêm da tiếp xúc kích ứng lên đến 60% [2]. Do đó, việc tự ý dùng dược liệu này bôi ngoài da tiềm ẩn nguy cơ dị ứng và tổn thương da cao hơn rất nhiều so với lợi ích kháng viêm chưa được kiểm chứng. Trước mọi vấn đề về tổn thương hay bệnh lý ngoài da, người bệnh nên tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa thay vì tự chữa trị bằng các bài thuốc truyền miệng.