Thói quen truyền miệng và thực tế y học

Nhiều người truyền tai nhau dùng bột long cốt nhằm trị đau lưng, mỏi gối, ngừa loãng xương. Quan niệm cổ truyền coi xương động vật hóa thạch chứa hàm lượng khoáng lớn giúp bổ xương cốt.

Dùng long cốt làm nguồn bổ sung canxi chủ lực không phải lựa chọn khoa học tối ưu. Thành phần chính từ hóa thạch chứa canxi vô cơ khó tan, sinh khả dụng thực tế thấp hơn nhiều so với các dạng canxi hữu cơ hoặc canxi tinh khiết hiện đại.

Bản chất của long cốt và rào cản hấp thu

Long cốt thực chất là xương hóa thạch của động vật có vú tiền sử. Trải qua hàng ngàn năm khoáng hóa, thành phần chủ yếu biến đổi thành canxi cacbonat vô cơ thể tinh thể cứng đặc, canxi photphat và các tạp chất khoáng khác.

Hệ thống tiêu hóa muốn hấp thu canxi phải phân rã hợp chất thành dạng ion tự do hòa tan. Các muối vô cơ dạng kết tinh đòi hỏi nồng độ axit dạ dày cực cao để hòa tan. Dạng canxi kết tinh thông thường này có độ tan rất kém so với các dạng canxi vô định hình hoặc canxi hữu cơ [1]. Khi không thể tan rã hoàn toàn, phần lớn canxi bị đào thải ra ngoài theo phân, gây táo bón và gánh nặng cho hệ tiêu hóa.

Bằng chứng khoa học về sinh khả dụng các dạng canxi

Sinh khả dụng phản ánh lượng canxi thực sự được cơ thể hấp thu vào máu [2]. Khoa học hiện đại thực hiện nhiều nghiên cứu đo lường chính xác tỷ lệ hấp thu giữa các gốc canxi.

Một nghiên cứu tổng quan công bố năm 2021 về việc tăng cường canxi cho thấy sinh khả dụng của canxi phụ thuộc chặt chẽ vào gốc muối hóa học [2]. Khi bổ sung liều 250 mg canxi nguyên tố trong bữa ăn, độ hấp thu của canxi cacbonat chỉ đạt 27%, canxi tricalcium photphat đạt 25%, trong khi dạng hữu cơ canxi malate citrate đạt tới 35% [2]. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khi so sánh 11 dạng phối hợp muối canxi khác nhau, sinh khả dụng dao động trong khoảng 20% đến 40%, tương đương mức chênh lệch khoảng 10% so với độ hấp thu canxi từ sữa (khoảng 30%) [2]. Khi uống lúc bụng đói, độ hấp thu của các dạng canxi này còn giảm xuống thấp hơn so với khi dùng cùng bữa ăn nhẹ [2].

Nghiên cứu công bố năm 2011 trên động vật đánh giá độ tan và độ hấp thu phân đoạn giữa canxi cacbonat vô định hình (ACC), canxi cacbonat vô định hình kết hợp chitosan (ACC-C) và canxi cacbonat dạng tinh thể (CCC - dạng tương đồng với thành phần của khoáng hóa thạch) [1]. Canxi cacbonat dạng tinh thể (CCC) bộc lộ độ tan kém nhất khi hòa tan trong axit photphoric loãng [1]. Kết quả phân tích huyết thanh ở chuột cho thấy mức hấp thu canxi từ ACC và ACC-C cao hơn tới 40% so với CCC [1]. Độ lưu giữ canxi toàn thân trong 34 giờ của nhóm dùng ACC và ACC-C cao hơn tới 26,5% so với CCC [1]. Lượng canxi tích lũy tại xương đùi của chuột dùng ACC cao hơn 30% và ACC-C cao hơn 15% so với nhóm dùng canxi kết tinh CCC [1].

Một nghiên cứu khác thực hiện năm 2017 trên chuột đực Sprague-Dawley nhằm kiểm tra ảnh hưởng của diện tích bề mặt tiếp xúc (SSA) và thành phần hóa học đối với canxi có cấu trúc nano [3]. Chuột được cho ăn các hợp chất canxi trong 21 ngày và đo lường độ hấp thu, lưu giữ canxi trong 5 ngày [3]. Kết quả cho thấy tỷ lệ lưu giữ canxi phân đoạn từ hydroxyapatite đạt 54,86% ± 0,95%, cao hơn đáng kể so với mức 49,66% ± 1,15% của canxi cacbonat có diện tích bề mặt 64 m2/g [3]. Tuy nhiên, việc tăng diện tích bề mặt tiếp xúc của canxi cacbonat nguyên chất không làm tăng tỷ lệ giữ canxi, cho thấy thành phần cấu trúc hóa học đóng vai trò quyết định khả năng hấp thu [3].

Nghiên cứu năm 2020 trên mô hình chuột bị cắt buồng trứng gây loãng xương ghi nhận tỷ lệ hấp thu canxi biểu kiến của nhóm bổ sung canxi citrate đạt 83,81% ± 2,12% và cân bằng canxi đạt 0,32 ± 0,20 mg/ngày [4]. Điều này khẳng định canxi hữu cơ dạng muối citrate giúp cơ thể hấp thu ổn định [4].

Tại Mexico, một nghiên cứu tổng hợp năm 1999 chỉ ra chế độ ăn giàu canxi nhưng sinh khả dụng kém vẫn không thể giải quyết được tình trạng mất xương dẫn đến loãng xương [5]. Việc phòng ngừa mất xương bằng các nguồn canxi có sinh khả dụng cao trong suốt đời sống, đặc biệt từ thời thơ ấu, quan trọng hơn nhiều so với việc cố gắng phục hồi xương khi đã tổn thương [5].

Yếu tố cản trở và hỗ trợ hấp thu canxi

Hấp thu canxi không chỉ phụ thuộc vào bản thân dược liệu mà còn chịu tác động từ môi trường ruột và các chất đi kèm. Axit phytic và axit oxalic là hai yếu tố kháng dinh dưỡng làm giảm hấp thu canxi mạnh mẽ bằng cách tạo thành muối không tan [6], [2]. Tỷ lệ mol oxalat/canxi vượt ngưỡng tới hạn 2,5 sẽ gây cản trở hấp thu canxi nghiêm trọng [6].

Chất đạm thủy phân và các peptide có khả năng tạo phức chelate với canxi, ngăn chặn sự kết tủa của khoáng chất này trong ruột non, từ đó thúc đẩy hấp thu tốt hơn [2]. Ngược lại, long cốt vốn là khối khoáng chất trơ, hoàn toàn thiếu vắng các peptide hỗ trợ hấp thu hay chất xơ hòa tan [4]. Khi uống bột long cốt thô, lượng canxi tự do được phóng thích rất ít, phần lớn trơ lỳ trong ống tiêu hóa.

Hiểu lầm thường gặp khi dùng long cốt

Nhiều người nhầm tưởng rằng "xương bù xương", cứ uống dược liệu từ xương hóa thạch là xương sẽ chắc khỏe. Thực tế, cơ thể người không thể hấp thu trực tiếp mảnh vụn xương hay khoáng vô cơ dạng thô. Xương chỉ nhận canxi khi phân tử đã được hòa tan hoàn toàn thành dạng ion tại đường ruột.

Một hiểu lầm khác là quy đổi hàm lượng thô thành lượng hấp thu. Một lượng bột long cốt có thể chứa nhiều canxi trên giấy tờ kiểm nghiệm, nhưng tỷ lệ hấp thu thực tế (sinh khả dụng) mới quyết định tác dụng. Uống lượng lớn khoáng vô cơ khó tan không giúp tăng mật độ xương mà dễ gây lắng cặn, sỏi thận, táo bón hoặc rối loạn tiêu hóa kéo dài. Long cốt tự nhiên nếu không được kiểm soát nguồn gốc nghiêm ngặt còn có nguy cơ lẫn tạp chất khoáng độc hại từ đất đá xung quanh nơi khai thác.

Nhóm đối tượng cần thận trọng

Người cao tuổi, người suy giảm chức năng tiêu hóa hoặc người có nồng độ axit dịch vị thấp không nên tự ý dùng bột long cốt để trị loãng xương. Axit dạ dày yếu khiến canxi vô cơ từ hóa thạch kết tủa hoàn toàn, gây chướng bụng và táo bón.

Người có tiền sử sỏi thận, sỏi tiết niệu hoặc suy giảm chức năng thận tuyệt đối không tự tiện sử dụng khoáng chất thô không rõ độ tinh khiết. Việc dung nạp các khoáng chất khó chuyển hóa gây áp lực bài tiết trực tiếp lên cầu thận. Bệnh nhân đang điều trị bệnh lý xương khớp cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa để được chỉ định các dạng canxi chuẩn hóa, tránh tự ý thay thế bằng long cốt truyền miệng.

Giải pháp bổ sung canxi hiệu quả trong đời sống

Người dân nên ưu tiên bổ sung canxi từ nguồn thực phẩm tự nhiên trong các bữa ăn hàng ngày. Các loại rau quả truyền thống đã được chứng minh có tỷ lệ hấp thu canxi thuận lợi nhờ tỷ lệ mol canxi/phytate lớn hơn 6 và tỷ lệ mol oxalat/canxi dưới 2,5 [6]. Rau đậu bắp non (Abelmoschus esculentus) hay rau sam (Portulaca quadrifida) là nguồn thực phẩm giàu canxi có sinh khả dụng tốt [6].

Trường hợp cần dùng chế phẩm bổ sung, người bệnh nên chọn các dạng canxi hữu cơ hiện đại (như canxi citrate malate, canxi citrate) hoặc canxi vô định hình theo hướng dẫn y khoa [1], [2]. Canxi nên được uống cùng bữa ăn để tận dụng dịch vị tiêu hóa, giúp tối ưu hóa khả năng hấp thu [2]. Long cốt có thể tồn tại trong các bài thuốc cổ phương với vai trò an thần, trấn kinh theo chỉ định của thầy thuốc y học cổ truyền, nhưng tuyệt đối không dùng đơn độc làm nguồn cung cấp canxi thay thế y học hiện đại.