Dân gian lưu truyền nhiều bài thuốc dùng rễ bồ quân Ấn trị rối loạn tiêu hóa và tiêu chảy cấp. Người bệnh thường phơi khô rễ, sắc nước uống để giảm số lần đi ngoài. Liệu mẹo truyền miệng này có cơ sở khoa học hay chỉ là lời đồn?

Khoa học hiện đại chưa có bằng chứng xác nhận việc dùng rễ bồ quân Ấn trị khỏi bệnh tiêu chảy. Các dữ liệu nghiên cứu về loài cây này tập trung vào sốt rét, chuyển hóa lipid và bảo vệ thận [1, 2, 3]. Việc tự ý sắc rễ cây uống khi bị nhiễm khuẩn ruột tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc hoặc khiến bệnh trở nặng.

Cây bồ quân Ấn trong y học cổ truyền

Bồ quân Ấn, tên khoa học là Flacourtia indica, phân bố rộng rãi tại vùng nhiệt đới châu Á và châu Phi [1, 2]. Tại Ấn Độ và nhiều quốc gia khác, cây được sử dụng trong các bài thuốc dân gian để hỗ trợ nhiều chứng bệnh khác nhau [1].

Theo kinh nghiệm truyền miệng, rễ và vỏ cây thường được phơi khô rồi sắc uống để giảm đau bụng, cầm tiêu chảy hoặc hạ sốt. Người ta tin rằng vị chát cùng hoạt tính kháng sinh tự nhiên từ rễ cây có thể làm săn se niêm mạc ruột và tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hóa. Tuy nhiên, các bài thuốc sắc thủ công chưa từng trải qua quy trình chuẩn hóa hoạt chất hay kiểm nghiệm độc tính trên người.

Cơ chế tác động được đồn đoán và thực tế

Trong cơ thể, tiêu chảy thường khởi phát do vi khuẩn xâm nhập đường ruột, giải phóng độc tố kích thích niêm mạc tăng tiết dịch và làm tăng nhu động ruột. Để kiểm soát tình trạng này, một dược liệu cần có khả năng kháng khuẩn, ức chế bài tiết hoặc làm giảm co bóp cơ trơn tiêu hóa.

Nhiều người cho rằng chiết xuất từ rễ bồ quân chứa tanin giúp se niêm mạc ruột và kháng lại các vi khuẩn đường ruột thông thường. Dẫu vậy, các phân tích khoa học cho thấy các hợp chất phân lập từ bồ quân Ấn lại thể hiện những cơ chế sinh học hoàn toàn khác, không liên quan trực tiếp đến khả năng kháng khuẩn ruột.

Nghiên cứu khoa học nói gì về bồ quân Ấn?

Năm 2010, một nghiên cứu tìm hiểu thành phần hóa học phần thân trên mặt đất của Flacourtia indica tại quần đảo Comoros nhằm kiểm tra kinh nghiệm trị sốt rét dân gian [2]. Các nhà khoa học đã phân lập được ba hợp chất từ nước sắc gồm pyrocatechol, homaloside D và poliothrysoside [2]. Khi thử nghiệm in vitro trên chủng ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum kháng chloroquine (W2) và thử độc tính trên hai dòng tế bào người THP1, HepG2, hợp chất poliothrysoside từ phân đoạn chiết xuất ethyl acetate (AcOEt) cho hoạt tính kháng ký sinh trùng sốt rét mạnh với chỉ số IC50 đạt 7,4 microM cùng chỉ số chọn lọc trên 28 [2]. Nghiên cứu này khẳng định tác dụng trị sốt rét nhưng không khảo sát hoạt tính kháng khuẩn ruột hay điều trị tiêu chảy [2].

Năm 2014, một nghiên cứu khác công bố việc phân lập hoạt chất poliothrysoside từ Flacourtia indica để thử nghiệm tiềm năng hỗ trợ điều trị đái tháo đường týp 2 [3]. Sau khi tổng hợp 15 dẫn xuất nhân tạo, các nhà khoa học đánh giá khả năng hấp thu glucose trên tế bào mỡ 3T3-L1 bị kháng insulin [3]. Kết quả cho thấy dẫn xuất số 2 giúp tăng nhạy cảm insulin thông qua con đường tín hiệu AMPK và ức chế sinh tế bào mỡ [3]. Dữ liệu này chỉ hướng tới điều trị chuyển hóa đường huyết, không có liên hệ với hệ tiêu hóa [3].

Đến năm 2016, nghiên cứu trên chuột Charles Foster bị rối loạn mỡ máu do tiêm Triton WR-1339 đã đánh giá chiết xuất hydromethanol từ lá cây Flacourtia indica [1]. Ở liều 150 mg/kg cân nặng, chiết xuất lá giúp giảm 17% cholesterol toàn phần, giảm 13% triglyceride và giảm 16% phospholipid trong huyết tương [1]. Hiệu quả này đạt được nhờ việc tăng 19% hoạt tính phân giải lipid sau tiêm heparin và tăng 20% hoạt tính enzyme lecithin-cholesterol-acyltransferase [1]. Dù thử nghiệm độc tính cấp trên chuột bạch Swiss Albino ghi nhận chiết xuất lá an toàn ở liều lên đến 2000 mg/kg, nghiên cứu này không đánh giá tác động trên ruột hay kiểm soát tiêu chảy [1].

Năm 2021, một nghiên cứu đánh giá dịch chiết quả Flacourtia indica trên mô hình chuột bị tổn thương thận do tiêm isoproterenol [4]. Quá trình tiêm isoproterenol làm suy giảm rõ rệt lượng glutathione (GSH), làm giảm biểu hiện mRNA của yếu tố phiên mã Nrf-2 trong thận, đồng thời làm tăng nồng độ axit uric, creatinine huyết tương và tăng hoạt tính myeloperoxidase (MPO) trong mô thận [4]. Chuột được cho uống chiết xuất quả bồ quân Ấn đã phục hồi lượng glutathione, giảm hoạt tính MPO, giảm nồng độ axit uric và creatinine máu tương đương thuốc atenolol [4]. Hoạt tính chống oxy hóa và bảo vệ thận của quả bồ quân Ấn cũng hoàn toàn nằm ngoài phạm vi điều trị tiêu chảy cấp [4].

Hoạt tính kháng khuẩn của các loài cùng chi

Nhiều người thường nhầm lẫn giữa bồ quân Ấn (Flacourtia indica) và các loài cây khác thuộc cùng chi Flacourtia. Đơn cử, nghiên cứu năm 2011 tại Benin khảo sát dịch chiết ethanol của 6 loài cây thuốc, trong đó có Flacourtia flavescens, nhằm tìm kiếm hoạt tính kháng khuẩn in vitro trên Staphylococcus aureus, Enterococcus faecalis, Escherichia coli và Pseudomonas aeruginosa [5]. Phương pháp pha loãng vi phiến cho thấy dịch chiết thô từ Flacourtia flavescens có nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) dao động từ 0,313 đến 2,5 mg/mL đối với các vi khuẩn nhạy cảm, trong khi vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa kém nhạy cảm nhất với giá trị MIC vượt quá 10 mg/mL [5].

Dù Flacourtia flavescens cùng chi thể hiện hoạt tính kháng khuẩn in vitro, đây là loài thực vật khác, dùng bộ phận khác và chỉ thử nghiệm trong ống nghiệm [5]. Kết quả trên không thể ngoại suy để khẳng định rễ của cây bồ quân Ấn có thể tiêu diệt vi khuẩn đường ruột trong cơ thể người.

Những hiểu lầm thường gặp về rễ bồ quân

Hiểu lầm phổ biến nhất là đánh đồng mọi bộ phận của cây bồ quân đều có cùng công dụng. Nghiên cứu thực tế cho thấy hoạt chất poliothrysoside tập trung ở phần thân trên mặt đất, các chất chống oxy hóa nhóm flavone, flavanone nằm ở lá, còn khả năng bảo vệ tế bào thận lại nằm ở quả [1, 2, 3]. Dân gian gom chung rễ cây để sắc nước trị tiêu chảy là thiếu căn cứ hóa học.

Quan niệm "dược liệu tự nhiên luôn vô hại" cũng khiến nhiều người chủ quan. Mặc dù chiết xuất lá bồ quân an toàn trên chuột ở mức 2000 mg/kg [1], dịch chiết nước sắc từ rễ chưa được kiểm định độc tính bán trường diễn hay độc tính trên gan, thận của người. Sử dụng rễ cây không rõ nguồn gốc có thể gây ngộ độc tích lũy hoặc tương tác bất lợi với các thuốc chuyển hóa qua gan.

Ai nên thận trọng?

Người đang bị tiêu chảy cấp mất nước tuyệt đối không tự điều trị tại nhà bằng rễ bồ quân Ấn. Tiêu chảy kéo dài dẫn đến rối loạn điện giải nghiêm trọng, trụy mạch và suy thận nếu không được bù dịch đúng cách.

Bệnh nhân có bệnh nền về thận, đái tháo đường hoặc rối loạn lipid máu đang dùng thuốc điều trị cần đặc biệt cẩn trọng. Bồ quân Ấn có các thành phần tác động lên đường huyết, chuyển hóa mỡ và bài tiết axit uric [2, 3, 4], việc tự ý uống nước rễ cây có thể gây tương tác thuốc không kiểm soát. Phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ không được sử dụng do chưa có dữ liệu an toàn.

Hướng dẫn xử trí đúng khi bị tiêu chảy

Khi xuất hiện triệu chứng đi ngoài phân lỏng nhiều lần, nguyên tắc quan trọng nhất là bù nước và điện giải kịp thời. Người bệnh nên sử dụng dung dịch oresol được pha đúng tỷ lệ theo hướng dẫn trên bao bì, uống từng ngụm nhỏ liên tục trong ngày.

Duy trì chế độ ăn thanh đạm, dễ tiêu hóa như cháo loãng, súp gà hoặc chuối chín để cung cấp năng lượng cho ruột phục hồi. Người bệnh cần nhanh chóng đến cơ sở y tế nếu xuất hiện các dấu hiệu báo động: đi ngoài ra máu, sốt cao liên tục, nôn mửa không thể uống nước, hoặc tiêu chảy không thuyên giảm sau 48 giờ.

Tóm lại, mẹo dùng rễ bồ quân Ấn trị tiêu chảy hoàn toàn chưa có cơ sở khoa học xác thực từ các nghiên cứu thực nghiệm. Độc giả không nên tin theo các bài thuốc truyền miệng chưa kiểm chứng để tránh trì hoãn việc điều trị y tế chuẩn quy. Khi gặp các vấn đề sức khỏe cấp tính, thăm khám bác sĩ luôn là giải pháp an toàn và khoa học nhất.