Thanh long là loại trái cây nhiệt đới quen thuộc, thường được ăn tươi hoặc làm nước giải khát nhờ vị ngọt thanh và tính mát. Trong mỗi quả thanh long, hàng nghìn hạt nhỏ màu đen li ti phân bố dày đặc trong phần thịt quả, nhưng hầu như luôn bị nuốt chửng mà không qua nhai nghiền. Nhiều người thắc mắc liệu những hạt nhỏ này có chứa các axit béo thiết yếu và dưỡng chất có lợi cho sức khỏe tim mạch, hay chỉ đơn thuần là chất xơ không thể tiêu hóa và bị đào thải nguyên vẹn ra ngoài.

Hiện tại, chưa có dữ liệu khoa học nào trong các tài liệu nghiên cứu được cung cấp phân tích trực tiếp thành phần hóa học hay lipid của hạt thanh long. Các dữ liệu hiện có mới chỉ khảo sát đặc tính dầu, axit béo và phytosterol trên các loại hạt và thực vật khác như mộc qua Nhật Bản, lựu, mận rừng, đậu đen, hạt sen hay các loại hạt gia vị họ Hoa tán. Do đó, khoa học chưa thể xác nhận hàm lượng omega-3, omega-6 hay phytosterol cụ thể trong hạt thanh long từ nguồn dữ liệu này.

Cơ chế tác động sinh học của các hợp chất lipid thực vật

Phytosterol là một nhóm sterol thực vật có cấu trúc tương tự như cholesterol nội sinh của con người [1]. Khi được hấp thu, phytosterol có khả năng can thiệp vào quá trình tạo hạt mixen chứa cholesterol trong lòng ruột, từ đó làm giảm độ hòa tan và hạn chế sự hấp thu cholesterol vào máu [2]. Nhờ đó, phytosterol được biết đến rộng rãi với đặc tính hỗ trợ giảm cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C), hỗ trợ chống oxy hóa và kháng viêm [1].

Nghiên cứu trên tế bào gan nguyên phát của chuột cho thấy phytosterol từ vỏ hạt đậu đen làm giảm sự hình thành thể mixen cholesterol [2]. Bên cạnh đó, các phytosterol này còn làm giảm quá trình sinh tổng hợp chất béo thông qua việc điều hòa giảm các protein sinh lipid như yếu tố gắn điều hòa sterol 1 (SREBP-1) và enzyme tổng hợp axit béo (FAS) [2]. Chúng cũng kích thích quá trình oxy hóa beta của các axit béo chuỗi dài thông qua việc tăng cường biểu hiện của carnitine palmitoyltransferase I [2].

Bên cạnh phytosterol, phần lipid không xà phòng hóa từ thực vật còn cung cấp squalene và tocopherol (vitamin E) [3]. Các thành phần này đóng vai trò chất chống oxy hóa tự nhiên, bảo vệ màng tế bào khỏi tổn thương oxy hóa và duy trì sự cân bằng của chuyển hóa mỡ [3], [1].

Các phát hiện về axit béo và phytosterol từ hạt thực vật

Nghiên cứu công bố năm 2022 trên 12 kiểu gen mộc qua Nhật Bản (Chaenomeles japonica) ghi nhận hàm lượng hạt chiếm 3,8 - 5,7% trọng lượng quả tươi, với hiệu suất dầu đạt 10,9 - 14,6% trọng lượng khô của hạt [4]. Ba axit béo chiếm ưu thế nhất trong dầu hạt là axit palmitic (C16:0) chiếm 8,1 - 9,8%, axit oleic (C18:1) chiếm 37,5 - 48,1%, và axit linoleic (C18:2) chiếm 40,1 - 50,3% [4]. Hợp chất alpha-tocopherol chiếm 97 - 99% tổng lượng tocopherol (dao động từ 91,9 đến 129,3 mg/100 g dầu), trong khi beta-sitosterol chiếm 76 - 80% tổng phytosterol (đạt 7.830 - 14.166 mg/100 g dầu) [4].

Nghiên cứu công bố năm 2019 về quả lựu phân tích hồ sơ lipid của 6 giống lựu tại Georgia (Mỹ), chia làm hai phần gồm mô hạt và mô không phải hạt (vỏ và dịch quả) [5]. Hàm lượng lipid tổng số trong hạt lựu đạt 18,1 - 21,5%, trong khi ở mô không phải hạt chỉ có 0,2 - 0,3% [5]. Axit punicic là axit béo chiếm ưu thế trong lipid hạt nhưng không phát hiện thấy trong các mô khác [5]. Tỷ lệ axit béo bão hòa trên không bão hòa ở hạt là 0,1 [5]. Hạt lựu chứa alpha-tocopherol đạt 167,3 mg/100 g và gamma-tocopherol đạt 84,6 mg/100 g; hàm lượng beta-sitosterol dao động từ 32,7 đến 345,8 mg/100 g [5].

Nghiên cứu công bố năm 2014 trên hạt Onopordum acanthium L. trong quá trình chín đã xác định được 9 loại axit béo và 6 loại phytosterol [6]. Axit béo chính gồm axit linoleic (0,18 - 8,06 mg/g hạt) và axit oleic (0,051 - 2,45 mg/g hạt) [6]. Beta-sitosterol là sterol chính, chiếm 34,5 - 77,79% tổng lượng sterol trong giai đoạn chín, trong khi cholesterol hoàn toàn không hiện diện [6].

Nghiên cứu công bố năm 2007 khảo sát lipid trong các loại hạt, ngũ cốc và đậu đã cho thấy beta-sitosterol là loại phytosterol phổ biến nhất, dao động từ 24,9 mg/100 g ở hạt bí ngô đến 191,4 mg/100 g ở hạt đậu Hà Lan [3]. Squalene xuất hiện nhiều nhất ở hạt bí ngô (89,0 mg/100 g) [3]. Tổng hàm lượng tocopherol dao động từ 0,1 mg/100 g ở lúa mạch đen đến 15,9 mg/100 g ở hạt bí ngô, và hàm lượng dầu tổng số dao động từ 0,9% ở đậu ngự đến 42,3% ở hạt bí ngô với thành phần chất béo chủ yếu là không bão hòa [3].

Nghiên cứu năm 2017 về mận rừng (Haematostaphis barteri) ghi nhận dầu hạt chứa axit linoleic chiếm 38,87%, axit palmitic chiếm 25,37% và axit oleic chiếm 12,34% [7]. Hàm lượng phytosterol tổng số trong dầu hạt mận rừng đạt 436,37 mg/100 g, cao hơn nhiều so với dầu phần thịt quả (17,09 mg/100 g) [7]. Phosphatidylcholine trong hạt mận rừng đạt 351,82 mg/100 g [7].

Nghiên cứu công bố năm 2021 về 8 loại hạt gia vị họ Hoa tán (Apiaceae) chỉ ra rằng beta-sitosterol và stigmasterol chiếm từ 40,3% (ở hạt thì là Ai Cập Ajwain) đến 69,8% (ở hạt cần tây) tổng sterol trong dầu hạt [1]. Dầu hạt caraway có tổng sterol cao nhất đạt 602,2 mg/100 g dầu, và tính theo trọng lượng khô thì hạt thì là đạt 134,2 mg/100 g sterol do chứa hàm lượng dầu lên tới 25,9% [1].

Nghiên cứu năm 2013 phân tích hạt sen (Nelumbo nucifera) cho thấy hạt sen chứa nồng độ axit béo và phytosterol cao hơn so với phần thân rễ [8]. Các axit béo chính gồm linoleic, palmitic và oleic, tồn tại chủ yếu ở dạng este [8]. Phytosterol trong hạt sen tồn tại chủ yếu ở dạng tự do, trong đó beta-sitosterol là phytosterol phong phú nhất [8].

Giới hạn của các bằng chứng khoa học hiện tại

Tất cả các dữ liệu thực nghiệm trên tập trung vào các loài thực vật khác nhau, hoàn toàn không có mẫu thử từ hạt thanh long (Hylocereus spp.). Sự khác biệt về loài, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và bộ gen di truyền quyết định rất lớn đến hàm lượng và tỷ lệ các axit béo cũng như phytosterol [5]. Do đó, việc suy diễn trực tiếp rằng hạt thanh long cũng chứa lượng axit béo hay phytosterol tương đương các loại hạt khác là không có cơ sở khoa học.

Mặt khác, các nghiên cứu trên chiết xuất lipid bằng dung môi công nghiệp như hexane hoặc thủy phân bằng lò vi sóng, sau đó phân tích qua sắc ký khí hoặc sắc ký lỏng [3], [8]. Trong điều kiện sinh lý bình thường của con người, hệ tiêu hóa không có dung môi hóa học để phá vỡ lớp vỏ cứng của hạt nếu chúng không được nhai nát.

Nghiên cứu về cơ chế hạ mỡ máu và ức chế tạo thể mixen của phytosterol đậu đen mới chỉ dừng lại ở mức mô hình nuôi cấy tế bào gan chuột (in vitro) [2]. Kết quả từ tế bào động vật không thể đại diện hoặc đồng nhất với hiệu quả lâm sàng chuyển hóa trên người thật.

Hiểu lầm thường gặp khi ăn hạt thanh long

Nhiều người tin rằng cứ ăn thanh long là cơ thể sẽ tự động hấp thu được các chất béo lành mạnh có trong hạt. Trên thực tế, vỏ ngoài của hạt thực vật thường rất cứng, được cấu tạo từ các sợi chất xơ không hòa tan nhằm bảo vệ phôi hạt. Nếu nuốt chửng hạt mà không nhai vỡ, dịch tiêu hóa và enzyme trong dạ dày cũng như ruột non người không thể phân giải lớp vỏ này, khiến hạt đi qua đường ruột mà không giải phóng các giọt dầu bên trong.

Một hiểu lầm khác là xem phytosterol thực vật như một giải pháp thay thế thuốc điều trị tăng mỡ máu. Mặc dù phytosterol có hoạt tính ức chế hấp thu cholesterol và điều hòa biểu hiện gen liên quan đến tổng hợp lipid ở tế bào gan chuột [2], chúng không có tác dụng chữa khỏi các bệnh lý tim mạch hay thay thế phác đồ y khoa hiện hành.

Ai nên thận trọng khi tiêu thụ hạt trái cây?

Những người đang mắc bệnh lý về đường tiêu hóa như viêm loét đại tràng tiến triển, bệnh Crohn hoặc có triệu chứng hẹp lòng ruột nên thận trọng với việc tiêu thụ số lượng lớn các loại hạt nhỏ khó tiêu. Lớp vỏ xơ cứng của hạt khi không được nhai kỹ có thể gây kích ứng niêm mạc ruột đang tổn thương.

Những người có tiền sử dị ứng với các loại hạt thực vật cũng cần lưu ý khi thử các loại hạt mới. Bệnh nhân có bệnh lý mạn tính hoặc rối loạn chuyển hóa lipid máu nên tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị để xây dựng chế độ dinh dưỡng phù hợp, không tự ý dựa vào hạt thực phẩm để điều trị bệnh.

Gợi ý áp dụng trong chế độ ăn hàng ngày

Hạt thanh long là một phần tự nhiên gắn liền với phần thịt quả, việc loại bỏ chúng khi ăn là không cần thiết và hầu như không khả thi. Để có thể giải phóng một phần dưỡng chất bên trong hạt, người tiêu dùng nên tập thói quen nhai kỹ từng miếng thanh long trước khi nuốt, hoặc nghiền nhuyễn quả trong các món sinh tố.

Khi chế biến sinh tố, lưỡi dao máy xay có thể làm vỡ một phần các hạt nhỏ, hỗ trợ giải phóng các hợp chất lipid nội bào nếu có. Bạn nên tiêu thụ thanh long ở mức độ vừa phải như một phần của chế độ ăn cân bằng đa dạng các loại trái cây và rau củ, tránh lạm dụng quá mức một loại thực phẩm duy nhất.

Thanh long là loại quả giàu dưỡng chất và bổ dưỡng cho thực đơn hàng ngày. Dù các loại hạt nói chung đều là nguồn tích lũy axit béo không bão hòa và phytosterol tiềm năng, người tiêu dùng không nên kỳ vọng hạt thanh long là phương thuốc thần kỳ mà hãy duy trì lối sống lành mạnh kết hợp đa dạng thực phẩm.