Bối cảnh và thắc mắc phổ biến về hồng trà Nam Phi

Hồng trà Nam Phi (rooibos) làm từ cành và lá của cây Aspalathus linearis, loại cây bụi đặc hữu tại Nam Phi [1]. Loại thảo mộc này không chứa caffeine, được dùng như thức uống bồi bổ sức khỏe cho nhiều lứa tuổi [1].

Trên thị trường hiện có hai dạng phổ biến: hồng trà Nam Phi đỏ truyền thống và hồng trà Nam Phi xanh. Người tiêu dùng thường thắc mắc hai loại trà này khác nhau ra sao về mặt hoạt chất và liệu loại nào tốt hơn cho sức khỏe.

Bản chất khác biệt: Lên men và không lên men

Khác biệt cốt lõi nằm ở khâu chế biến lá sau thu hoạch. Trà đỏ là dạng đã trải qua quá trình lên men và oxy hóa, trong khi trà xanh là dạng chưa lên men, giữ nguyên trạng thái tự nhiên [1], [2].

Khi lên men, lá trà chuyển từ màu xanh sang nâu đỏ [3]. Quá trình oxy hóa này tạo ra các hợp chất eriodictyol glucoside màu nâu sẫm, làm thay đổi cấu trúc polyphenol ban đầu [3]. Ngược lại, trà xanh không qua oxy hóa nên giữ được hàm lượng chất chống oxy hóa tự nhiên cao hơn [4], [3].

Nồng độ polyphenol và cơ chế chống oxy hóa

Cơ chế tạo nên sự chênh lệch hoạt tính nằm ở aspalathin, một flavonoid nhóm dihydrochalcone đặc trưng của cây rooibos [1], [2]. Ở dạng chưa lên men, aspalathin tồn tại với hàm lượng rất cao [4], [3].

Khi lên men tạo trà đỏ, aspalathin bị oxy hóa mạnh và chuyển hóa thành các hợp chất khác như eriodictyol-C-glucoside, orientin và isoorientin [3]. Một nghiên cứu phân tích cho thấy trà xanh chứa tới 49,92 mg/g aspalathin, cùng các flavonoid khác như isoorientin (3,57 mg/g), orientin (2,336 mg/g) và rutin (1,69 mg/g) [4]. Quá trình lên men làm sụt giảm nghiêm trọng lượng aspalathin [3], [5].

Hoạt tính bẫy gốc tự do của trà phụ thuộc chủ yếu vào aspalathin và nothofagin [5]. Vì nồng độ các chất này ở trà xanh cao hơn, khả năng chống oxy hóa tổng thể của trà xanh vượt trội hơn dạng lên men [2], [4], [5].

Bằng chứng khoa học: Nghiên cứu trong ống nghiệm

Các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm chứng minh sự suy giảm chất chống oxy hóa do lên men. Một nghiên cứu dùng phương pháp sắc ký lỏng HPLC-UV đo hoạt tính chống oxy hóa tổng (TAA) bằng xét nghiệm ABTS [4]. Kết quả cho thấy TAA của trà chưa lên men đạt 0,8 mili đương lượng Trolox/g, cao gấp đôi so với trà đỏ lên men [4]. Dù vậy, mức này vẫn thấp hơn khoảng 50% so với trà xanh và trà đen thông thường từ cây Camellia sinensis [4].

Một nghiên cứu năm 2013 kiểm tra khả năng bẫy gốc peroxyl của hai loại nước trà [5]. Hàm lượng phenol tổng của trà giảm từ 280 mg GAE/L ở dạng xanh xuống 249 mg GAE/L ở dạng đỏ [5]. Tuy nhiên, lượng aspalathin giảm mạnh từ 0,1067 mg/mL ở trà xanh xuống chỉ còn 0,0031 mg/mL ở trà đỏ [5]. Trà đỏ kém hơn ít nhất 15% trong việc bảo vệ huỳnh quang FL trước gốc peroxyl, và chỉ số ORAC-PGR của trà xanh cao hơn khoảng 2,6 lần so với trà đỏ [5].

Một nghiên cứu năm 2019 dùng khối phổ UHPLC-QTOF xác định được 187 hợp chất phenolic trong cả hai loại trà [1]. Nghiên cứu chỉ ra đun sôi cả trà xanh và trà đỏ đem lại dịch chiết có tổng polyphenol và khả năng chống oxy hóa cao nhất [1]. Khả năng chống oxy hóa của trà xanh ủ lạnh hoặc ủ thông thường tương đương với trà đỏ đun sôi [1].

Năm 2022, nghiên cứu về khả năng bẫy alpha-dicarbonyl ghi nhận acetylaspalathin chỉ xuất hiện ở trà đỏ [3]. Các flavonol O-glycoside như bioquercetin, rutin, hyperoside và isoquercitrin lại phát hiện nhiều hơn ở trà đỏ [3]. Tuy nhiên, tổng hàm lượng aspalathin của trà xanh vẫn chiếm ưu thế vượt trội [3].

Trà chưa lên men cũng được thử nghiệm chống oxy hóa lipid trong thực phẩm [6]. Nghiên cứu năm 2013 bổ sung 2% trà xanh vào chả thịt đà điểu giúp giảm chỉ số TBARS suốt 8 ngày bảo quản [6]. Dịch chiết trà đỏ ở tỷ lệ 0,5% và 1% cũng làm chậm oxy hóa chất béo trong xúc xích salami đà điểu đến 15 ngày [6].

Bằng chứng khoa học: Thử nghiệm trên sinh vật và động vật

Năm 2013, nghiên cứu trên giun tròn Caenorhabditis elegans sống trong môi trường đường cao ghi nhận dịch chiết rooibos giúp kéo dài tuổi thọ sinh vật [2]. Trà xanh thể hiện khả năng chống oxy hóa mạnh hơn trà đỏ nhờ hàm lượng aspalathin cao [2]. Aspalathin giảm tổn thương oxy hóa cấp do juglone gây ra, tác động lên gen liên quan stress và lão hóa qua con đường tín hiệu DAF-16/FOXO, làm giảm mức ROS nội bào [2].

Năm 2009, nghiên cứu trên chuột bị gây tổn thương gan bởi fumonisin B1 (FB1) và diethylnitrosamine (DEN) cho thấy các loại trà tác động khác nhau lên chỉ số gan và thận [7]. Trà thảo mộc lên men giảm đáng kể peroxy hóa lipid (P < 0,05) [7]. Trà rooibos chưa lên men làm giảm đáng kể số lượng ổ tổn thương kích thước trên 10 micromet (P < 0,05) [7]. Nghiên cứu chỉ ra quá trình lên men làm giảm tác dụng bảo vệ của trà thảo mộc [7].

Năm 2014, một nghiên cứu trên chuột Wistar bị tổn thương mô gan bởi tert-butyl hydroperoxide so sánh trà rooibos và viên bổ sung [8]. Việc uống trà không làm thay đổi mức tăng trọng lượng cơ thể chuột [8]. Chuột uống trà rooibos chưa lên men có lượng ORAC nạp vào cơ thể hàng ngày cao nhất so với nhóm uống trà đỏ và nhóm dùng viên bổ sung (P < 0,05) [8]. Nhóm uống trà thảo mộc cũng nạp lượng flavonol hàng ngày cao hơn nhóm dùng viên bổ sung (P < 0,05) [8].

Lợi ích thực tế và giới hạn của bằng chứng

Trà xanh Nam Phi vượt trội về nồng độ aspalathin và tổng khả năng chống oxy hóa [2], [4], [5]. Trà đỏ tuy giảm aspalathin nhưng vẫn là nguồn dồi dào các flavonoid khác như rutin, isoquercitrin hay orientin [4], [3]. Trà đỏ có hương vị ngọt dịu, đậm đà do quá trình lên men tạo nên, phù hợp khẩu vị đại chúng hơn dạng trà xanh có vị chát nhẹ giống trà mộc.

Tuy nhiên, các dữ liệu về bảo vệ gan, chống ung thư hay kéo dài tuổi thọ mới chỉ thực hiện trên tế bào, giun tròn và chuột cống [7], [2], [8]. Chưa có thử nghiệm lâm sàng đối chứng quy mô lớn trên người để khẳng định uống loại trà nào sẽ mang lại hiệu quả trị bệnh vượt trội. Không thể xem loại trà này là thuốc chữa bệnh.

Hiểu lầm thường gặp

Nhiều người lầm tưởng trà đỏ Nam Phi đã mất hết chất dinh dưỡng sau khi lên men. Thực tế, trà đỏ vẫn giữ hàm lượng polyphenol đáng kể (khoảng 249 mg GAE/L so với 280 mg GAE/L ở trà xanh) và chứa nhiều flavonoid có lợi khác [3], [5].

Quan niệm khác cho rằng trà rooibos xanh có khả năng chống oxy hóa cao hơn mọi loại trà. Thực tế, xét nghiệm cho thấy hoạt tính chống oxy hóa tổng của trà xanh Nam Phi vẫn thấp hơn khoảng 50% so với trà từ cây chè thông thường (Camellia sinensis) [4].

Ai nên thận trọng khi sử dụng?

Hồng trà Nam Phi nhìn chung lành tính, tự nhiên không chứa caffeine [1]. Dù vậy, những người có bệnh lý nền về gan, thận hoặc đang điều trị thuốc chống ung thư cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng liều lượng lớn dịch chiết đậm đặc [7], [8].

Hiện chưa có nghiên cứu chuyên sâu về liều dùng an toàn của các dạng dịch chiết cô đặc cho phụ nữ mang thai hoặc trẻ sơ sinh; tài liệu chỉ mới ghi nhận thói quen dùng nước hãm thông thường trong đời sống bản địa [1].

Cách áp dụng thực tế

Để tối ưu hóa hàm lượng polyphenol và khả năng chống oxy hóa, phương pháp đun sôi đem lại hiệu suất chiết xuất cao nhất cho cả trà xanh lẫn trà đỏ [1]. Nếu sử dụng trà xanh, phương pháp ủ lạnh hoặc hãm nước nóng thông thường cũng đạt mức chống oxy hóa tương đương trà đỏ đun sôi [1].

Người dùng nên uống lượng vừa phải như một loại trà giải khát hàng ngày. Người thích vị mộc, thanh nhẹ và muốn ưu tiên chất chống oxy hóa có thể chọn trà xanh. Người chuộng vị ngọt hậu, màu đỏ truyền thống có thể chọn trà đỏ.

Hồng trà Nam Phi xanh và đỏ đều mang lại giá trị chống oxy hóa tự nhiên từ nguồn flavonoid thực vật dồi dào [1], [3]. Tùy vào sở thích hương vị và nhu cầu nạp polyphenol, người tiêu dùng có thể linh hoạt luân phiên cả hai loại trong chế độ uống cân bằng mỗi ngày.