Nhiều người khi cầm đơn thuốc hoặc chọn thực phẩm bổ sung thường thắc mắc vì sao cùng là bổ sung kali nhưng bác sĩ lúc kê kali citrat, lúc lại chỉ định kali clorid. Sự khác biệt nằm ở gốc anion đi kèm với kali. Việc chọn sai dạng muối có thể làm giảm hiệu quả điều trị hoặc khiến rối loạn toan kiềm trong cơ thể nặng thêm.

Hai hợp chất này không thể thay thế tùy tiện cho nhau. Kali citrat cung cấp ion citrat mang tính kiềm, thích hợp cho người bị toan chuyển hóa, sỏi thận hoặc toan hóa ống thận [1], [2]. Ngược lại, kali clorid cung cấp ion clo, giữ vai trò quyết định trong việc bù điện giải cho các trường hợp mất dịch kèm hạ clo máu [3].

Cơ chế tác động khác biệt giữa gốc citrat và gốc clorid

Khi đi vào cơ thể, cả kali clorid và kali citrat đều giải phóng kali tự do để hấp thu vào máu [4]. Cả hai loại muối này đều có sinh khả dụng tốt qua đường uống mà không bị phụ thuộc vào liều lượng hay cách thức sử dụng [4]. Điểm khác biệt mấu chốt đến từ cách chuyển hóa của phần gốc gắn kèm.

Gốc citrat trong kali citrat đóng vai trò như một nguồn dự trữ kiềm [2]. Khi vào hệ tuần hoàn, citrat được chuyển hóa thành bicarbonat, giúp trung hòa lượng acid dư thừa trong máu và nước tiểu [1], [2]. Ngược lại, ion clorid trong kali clorid là một anion trơ về mặt chuyển hóa toan kiềm. Clorid không chuyển hóa thành bazơ, do đó không tạo ra tác động kiềm hóa dịch thể [2].

Sự xuất hiện của ion clo rất cần thiết cho thận khi cơ thể mất nước kèm clo do dùng thuốc lợi tiểu hoặc nôn ói kéo dài. Nếu không có clorid đi kèm, thận không thể tái hấp thu natri và giữ cân bằng dịch hiệu quả. Ngược lại, khi cơ thể đang dư acid, việc bổ sung thêm gốc clorid không giúp ích cho cân bằng kiềm, trong khi gốc citrat giải quyết tốt vấn đề này [1], [2].

Bằng chứng khoa học về kali citrat trong toan hóa và sỏi thận

Một nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên có đối chứng năm 2012 theo dõi 30 bệnh nhân ghép thận bị toan chuyển hóa trong suốt 12 tháng [1]. Bệnh nhân được chia thành hai nhóm: một nhóm dùng kali citrat để duy trì nồng độ bicarbonat huyết thanh trên 24 mmol/L, nhóm đối chứng dùng kali clorid [1]. Kết quả cho thấy nhóm dùng kali citrat duy trì được mức chuẩn hóa bicarbonat máu liên tục [1]. Qua sinh thiết xương mào chậu và chụp vi cắt lớp, nhóm này bảo tồn diện tích xương, mật độ kết nối, độ dày vỏ xương và độ xốp vỏ xương tốt hơn nhóm dùng kali clorid [1]. Dù vậy, phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép không ghi nhận thay đổi đáng kể về mật độ khoáng xương, và nghiên cứu có hạn chế là nhóm bệnh nhân không đồng nhất về tuổi, giới tính cùng thời gian ghép thận [1].

Về tác động kiềm hóa nước tiểu, nghiên cứu năm 1991 trên 8 bệnh nhân sỏi thận dùng liều 80 mEq/ngày trong 2 tuần đã so sánh kali citrat, kali bicarbonat và kali clorid [2]. Lượng citrat niệu tăng rõ rệt từ 2,5 mmol/ngày lên 5,1 mmol/ngày khi dùng kali citrat và lên 4,5 mmol/ngày khi dùng kali bicarbonat, trong khi nhóm dùng kali clorid không có thay đổi đáng kể [2]. Độ thanh thải citrat tăng từ 8,0 lên 27,4 mL/phút ở nhóm kali citrat nhưng không tăng ở nhóm kali clorid [2]. Cả kali citrat và kali bicarbonat đều làm tăng bicarbonat niệu, giảm bài tiết amoni, acid chuẩn độ được và acid thực tế qua thận; kali clorid hoàn toàn không có các tác dụng này [2].

Đối với bệnh nhân tạo sỏi thận đang dùng thuốc lợi tiểu thiazid, một thử nghiệm năm 1984 trên 13 bệnh nhân sỏi canxi cho thấy thiazid làm giảm kali máu, giảm canxi niệu và giảm cả citrat niệu [5]. Kali clorid giúp ngừa hạ kali máu và ngừa hạ citrat niệu nhưng không làm thay đổi độ pH nước tiểu [5]. Trong khi đó, kali citrat vừa giữ canxi niệu ở mức thấp, sửa chữa hạ kali máu, vừa làm tăng pH nước tiểu và nồng độ citrat niệu vượt trội hơn hẳn các giai đoạn khác [5]. Nhờ khả năng tạo phức giữa citrat với canxi, kali citrat làm giảm độ bão hòa canxi oxalat và giảm nguy cơ kết tủa tự phát canxi oxalat trong nước tiểu hiệu quả hơn kali clorid [5].

Trẻ em mắc sỏi đường tiết niệu cũng được chỉ định kali citrat theo phác đồ kiềm hóa bằng dung dịch chứa 220 g kali citrat kết hợp 66 g acid citric trong 1000 ml nước cất, cung cấp 2 mEq ion kali mỗi mililit, dùng với liều 1 mEq/kg/ngày chia 3 lần uống sau ăn [6].

Khi nào kali clorid là lựa chọn ưu tiên?

Kali clorid phát huy thế mạnh khi cơ thể bị hạ kali máu đi kèm tình trạng kiềm chuyển hóa giảm clo máu, thường gặp ở người dùng thuốc lợi tiểu thiazid kéo dài [3]. Một nghiên cứu năm 2000 thực hiện trên 60 người bình thường dùng hydrochlorothiazide 50 mg/ngày trong 3 tuần, sau đó chia ngẫu nhiên dùng kali-magie citrat (chứa 42 mEq K, 21 mEq Mg, 63 mEq citrat/ngày) hoặc dùng kali clorid (42 mEq/ngày) trong 3 tuần tiếp theo [3]. Kali clorid đã tăng nồng độ kali huyết thanh từ mức 3,45 mEq/L lên khoảng 3,8 mEq/L [3]. Đáng chú ý, nhóm dùng muối citrat kém hiệu quả hơn kali clorid trong việc điều chỉnh tình trạng hạ clo máu và tăng bicarbonat máu do thiazid gây ra [3].

Dù kali citrat làm tăng pH nước tiểu thêm 0,6 đơn vị và tăng lượng citrat niệu thêm khoảng 260 mg/ngày, sự thiếu hụt clo trong phác đồ citrat khiến việc lập lại cân bằng điện giải khi bị mất clo gặp hạn chế so với dùng kali clorid [3].

Tuy nhiên, người bệnh sỏi thận cần dùng thiazid lâu dài không cần quá lo ngại nếu phải dùng kali citrat. Nghiên cứu hồi cứu năm 2003 trên 95 bệnh nhân điều trị kết hợp thuốc lợi tiểu thiazid và kali citrat trong ít nhất 4 tháng cho thấy kali máu trung bình vẫn nằm trong giới hạn bình thường [7]. Nồng độ clo máu chỉ giảm nhẹ 1 mEq/L so với trước điều trị và vẫn nằm trong khoảng an toàn, còn nồng độ bicarbonat máu chỉ tăng nhẹ dưới 1 mEq/L ở các mốc 8–12 và 18–24 tháng [7].

Tác động đối với huyết áp: Hai dạng muối có tương đương?

Cả kali clorid và kali citrat đều là những ứng viên thay thế một phần muối natri clorid trong chế độ ăn nhờ sinh khả dụng tốt ở người trưởng thành khỏe mạnh [4]. Người bệnh thường băn khoăn liệu tác dụng hạ áp có bị chi phối bởi gốc clorid hay không.

Nghiên cứu chéo ngẫu nhiên năm 2005 trên 14 người tăng huyết áp đã so sánh kali clorid với kali citrat ở liều 96 mmol/ngày trong 1 tuần mỗi đợt [8]. Huyết áp ban đầu của các đối tượng là 151/93 mm Hg với lượng kali niệu 24 giờ là 81 mmol [8]. Sau can thiệp, huyết áp giảm xuống 140/88 mm Hg ở nhóm kali clorid (kali niệu 24 giờ đạt 164 mmol) và 138/88 mm Hg ở nhóm kali citrat (kali niệu 24 giờ đạt 160 mmol) [8].

Mức giảm huyết áp giữa hai nhóm không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê, với chênh lệch trung bình là 1,6 mm Hg đối với huyết áp tâm thu và 0,6 mm Hg đối với huyết áp tâm phanh [8]. Điều này chứng minh hiệu quả kiểm soát huyết áp đến từ chính ion kali chứ không phụ thuộc vào gốc clorid, mở ra cơ hội hạ áp thông qua việc tăng cường các loại rau quả tự nhiên giàu kali không chứa muối clorid [8].

Hiểu lầm phổ biến và đối tượng cần thận trọng

Nhiều người lầm tưởng rằng mọi loại muối kali đều có thể dùng để kiềm hóa nước tiểu hoặc tan sỏi thận. Thực tế, dùng kali clorid cho người bị sỏi canxi oxalat hoặc toan hóa ống thận sẽ không mang lại hiệu quả nâng pH niệu hay tăng bài tiết citrat [5], [2]. Ngược lại, dùng kali citrat cho người nôn ói nhiều hoặc kiềm chuyển hóa do thiếu clo sẽ không bù đắp được lượng clorid thiếu hụt trong cơ thể [3].

Người suy giảm chức năng thận nặng, người dùng thuốc giữ kali, thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc chẹn thụ thể cần hết sức thận trọng khi bổ sung bất kỳ dạng kali nào. Thận suy giảm khả năng bài tiết có thể dẫn đến tăng kali máu nguy hiểm. Việc sử dụng cần có sự theo dõi của bác sĩ và xét nghiệm máu định kỳ.

Áp dụng thực tế và lời khuyên sử dụng

Việc lựa chọn dạng muối kali cần dựa chính xác vào mục đích bệnh lý:

  • Nếu mục đích là phòng ngừa sỏi thận tái phát, tăng citrat niệu hoặc sửa chữa toan chuyển hóa, kali citrat là lựa chọn chỉ định phù hợp [1], [5], [2]. Dung dịch kali citrat thường được chia uống làm nhiều lần trong ngày sau bữa ăn để giảm kích ứng đường tiêu hóa [6].
  • Nếu mục đích là bù hạ kali máu do dùng lợi tiểu mất clo, nôn mửa, kali clorid là lựa chọn ưu thế để điều chỉnh đồng thời cả kali và clorid [3].
  • Nếu chỉ nhằm mục đích hỗ trợ kiểm soát huyết áp hoặc giảm tải muối ăn, cả hai dạng muối đều cho hiệu quả tương đương và có thể dùng thay thế muối ăn thông thường theo hướng dẫn dinh dưỡng [8], [4].

Cả kali citrat và kali clorid đều có giá trị điều trị cao nếu dùng đúng chỉ định. Người bệnh không nên tự ý đổi loại thuốc bổ sung kali mà không có sự đồng ý của nhân viên y tế để đảm bảo an toàn cho cân bằng acid-kiềm của cơ thể.