Nhiều người tìm kiếm các loại thảo dược tự nhiên với mong muốn ngăn ngừa lão hóa và phòng ngừa bệnh tật qua cơ chế chống oxy hóa. Cây kim tước chi (tên khoa học: Parkinsonia aculeata L., thuộc họ Đậu Fabaceae) là loài thảo mộc nhận được sự quan tâm nghiên cứu về đặc tính khử gốc tự do [1, 4]. Một câu hỏi phổ biến đặt ra: Lá và vỏ cây kim tước chi có sự khác biệt thế nào về hàm lượng polyphenol và khả năng chống oxy hóa?
Dữ liệu khoa học hiện có chủ yếu tập trung phân tích thành phần lá, cành nhỏ và các bộ phận trên mặt đất của cây kim tước chi [1, 2, 4, 5]. Hiện chưa có nghiên cứu so sánh trực tiếp nồng độ polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa giữa phần lá và phần vỏ của riêng loài kim tước chi trong các tài liệu ghi nhận. Toàn bộ thông tin sinh học nổi bật của thảo dược này đến nay dựa trên các thử nghiệm với dịch chiết lá và cành [1, 2, 3, 4, 5].
Gốc tự do và cơ chế bảo vệ của hợp chất thực vật
Gốc tự do liên tục được sinh ra trong cơ thể sống qua quá trình chuyển hóa nội sinh hoặc tác động môi trường [1]. Khi mất cân bằng, các gốc tự do gây tổn hại cấu trúc sinh học, làm đứt gãy phân tử ADN và đẩy nhanh quá trình thoái hóa tế bào [1, 3]. Các chất chống oxy hóa tổng hợp tuy có hiệu quả bảo vệ nhưng thường đi kèm nhiều tác dụng phụ, khiến khoa học chuyển hướng sang tìm kiếm nguồn chống oxy hóa tự nhiên [1].
Thực vật tổng hợp các hợp chất chuyển hóa thứ cấp như polyphenol, flavonoid để tự vệ [3, 4]. Khi đi vào cơ thể hoặc các hệ thử nghiệm sinh học, những hợp chất này khử gốc tự do bằng cách cho điện tử hoặc hydro, từ đó trung hòa các gốc có hại [2, 3]. Nhờ cơ chế này, dịch chiết chứa polyphenol có thể ngăn ngừa chuỗi phản ứng phá hủy lipid, protein và vật chất di truyền [1, 3].
Thành phần polyphenol trong lá kim tước chi
Nghiên cứu hóa thực vật cho thấy lá và phần trên mặt đất của kim tước chi tích lũy lượng lớn hợp chất phenolic và flavonoid [1, 3, 4]. Phân tích sắc ký lỏng siêu hiệu năng (UHPLC) dịch chiết lá phát hiện hàng loạt polyphenol quý như axit gallic, catechin, axit chlorogenic, axit caffeic, umbelliferone, axit coumaric, rutin và axit ellagic [2].
Một nghiên cứu phân tích sâu hơn bằng sắc ký khí và sắc ký lỏng xác nhận phân đoạn butanol từ lá chứa axit gallic, catechin, axit chlorogenic, epicatechin, axit caffeic, umbelliferone, axit coumaric, rutin, axit ellagic và tert-butyl hydroquinone [1]. Phân đoạn hexan của lá tiếp tục ghi nhận thêm quercetin và kaempferol [1]. Ngoài ra, công nghệ khối phổ UPLC-ESI-MS/MS ghi nhận 69 hợp chất từ các phần trên mặt đất, gồm các flavonoid-C-glycoside như orientin (luteolin-8-C-beta-D-glucoside) và vitexin (apigenin-8-C-glucoside) [3]. Từ lá và cành nhỏ, các nhà khoa học cũng phân lập được 5 monoterpene glycoside vòng lớn mang tên parkinsenes A-E cùng các flavonoid glucoside, axit p-hydroxybenzoic, esculetin và diosmetin [4].
Hoạt tính thu dọn gốc tự do qua các nghiên cứu
Khả năng dập tắt gốc tự do của lá kim tước chi được kiểm chứng qua nhiều thử nghiệm ống nghiệm chuyên biệt. Phương pháp DPPH sử dụng một gốc tự do nhân tạo bền vững để đo khả năng nhận điện tử từ chiết xuất thực vật [2, 3].
Nghiên cứu in vitro năm 2013 kiểm tra các dịch chiết lá kim tước chi cho thấy chiết xuất methanol đạt tỷ lệ ức chế gốc DPPH là 57,82%, trong khi chiết xuất nước đạt 41,97% ở nồng độ cao nhất 1000 microgam/mL [5]. Thử nghiệm khử phức hệ sắt (potassium ferric cyanide) cho thấy độ hấp thụ của chiết xuất methanol đạt 0,669 và chiết xuất nước đạt 0,63 ở nồng độ cao nhất [5]. Trong thử nghiệm CUPRAC khử ion đồng Cu(II) về Cu(I), chiết xuất methanol đạt độ hấp thụ cực đại 0,241 và chiết xuất nước đạt 0,331, thấp hơn chất chuẩn axit gallic (0,718) [5]. Trong thử nghiệm bảo vệ deoxyribose không đặc hiệu vị trí, dịch chiết methanol và dịch chiết nước thể hiện tỷ lệ ức chế tổn thương lần lượt là 71,232% và 72,019% [5].
Một nghiên cứu công bố năm 2014 ghi nhận chiết xuất ethanol và ethyl acetate từ lá kim tước chi đạt khả năng ức chế gốc DPPH lần lượt 86,7% và 75,29% ở nồng độ 0,5 mg/mL [1]. Nghiên cứu năm 2020 trên mẫu cây thu hái tại Ả Rập Xê Út chỉ ra phân đoạn ethyl acetate từ các bộ phận trên mặt đất có hoạt tính chống oxy hóa mạnh nhất với giá trị SC50 là 57,4 ± 1,2 microgam/mL, so với chất đối chứng axit ascorbic là 12,4 ± 0,5 microgam/mL [3]. Đồng thời phân đoạn này thể hiện độc tính tế bào mức độ vừa phải trên dòng ung thư biểu mô tế bào gan HepG-2 (IC50 = 56,9 ± 3,1 microgam/mL) và dòng ung thư vú MCF-7 (IC50 = 95,8 ± 3,8 microgam/mL), so với thuốc cisplatin (IC50 lần lượt là 3,67 và 5,71 microgam/mL) [3].
Khả năng bảo vệ ADN và giảm đột biến
Ngoài việc thu dọn gốc tự do tự do trong dung dịch, chiết xuất lá kim tước chi còn có tác dụng ngăn ngừa tổn hại ADN. Nghiên cứu năm 2016 sử dụng thử nghiệm nicking ADN pBR322 chỉ ra các phân đoạn dịch chiết hữu cơ (methanol, hexane, n-butanol) và dịch chiết nước từ lá đều ức chế hiệu quả tổn hại ADN do gốc hydroxyl gây ra [2]. Phân đoạn n-butanol thể hiện khả năng bảo vệ ADN và chống đột biến vượt trội nhất [2].
Thử nghiệm Ames trên các chủng vi khuẩn Salmonella typhimurium TA98 và TA100 chứng minh chiết xuất lá kim tước chi ức chế tác nhân gây đột biến trực tiếp (4-nitro-o-phenylenediamine, sodium azide) và gián tiếp (2-aminofluorene) [2]. Hiệu quả ghi nhận tốt hơn ở phương thức tiền ủ so với đồng ủ [2]. Các nhà nghiên cứu kết luận khả năng này liên quan chặt chẽ đến sự hiện diện phong phú của các chất polyphenol [2]. Thử nghiệm trên mô hình sinh vật với dịch chiết methanol nước 80% từ lá và cành nhỏ ở liều 250 và 500 mg/kg trọng lượng cơ thể ghi nhận tác dụng chống oxy hóa, giảm đau, hạ sốt, kháng viêm, bảo vệ gan, hạ đường huyết và hạ cholesterol phụ thuộc liều [4].
Giới hạn bằng chứng và khác biệt giữa các bộ phận
Điểm hạn chế lớn nhất hiện nay là thiếu hoàn toàn các dữ liệu phân tích hóa lý và hoạt tính sinh học trên vỏ thân của cây kim tước chi. Trọng tâm thực nghiệm cho đến nay chỉ tập trung khai thác lá và ngọn non [1, 2, 3, 4, 5]. Vì vậy, việc khẳng định lá tốt hơn vỏ hay vỏ chứa nhiều hoạt chất hơn lá đối với loài cây này là không có cơ sở khoa học.
Thực tế nghiên cứu ở các loài cây thân gỗ khác cho thấy hàm lượng chất chống oxy hóa giữa các cơ quan có thể chênh lệch rất lớn tùy loài. Người tiêu dùng không nên tự ý suy diễn rằng vỏ cây luôn có tác dụng dược lý tương tự hoặc vượt trội hơn phần lá khi chưa có kiểm nghiệm thực tế.
Hiểu lầm thường gặp khi sử dụng thảo dược
Một quan niệm sai lầm phổ biến là cho rằng dược liệu tự nhiên có thể thay thế thuốc điều trị bệnh mạn tính hoặc phòng chống ung thư tuyệt đối. Dù các phân đoạn chiết xuất kim tước chi thể hiện độc tính tế bào trên dòng HepG-2 và MCF-7 trong ống nghiệm [3], điều này hoàn toàn không đồng nghĩa với việc uống nước sắc từ cây sẽ chữa khỏi bệnh ung thư.
Một hiểu lầm khác là dùng mọi bộ phận của cây đều an toàn như nhau. Vỏ thân của các loài thực vật hoang dại thường tích lũy các chất chát, độc chất bảo vệ hoặc tanin ngưng tụ dễ gây kích ứng đường tiêu hóa nếu không qua chế biến đúng quy chuẩn. Hoạt tính chống oxy hóa ghi nhận được mới chỉ ở quy mô phòng thí nghiệm và trên động vật thực nghiệm [1, 4, 5].
Đối tượng cần thận trọng
Do chưa có thử nghiệm lâm sàng đánh giá độ an toàn trên người, phụ nữ có thai và phụ nữ đang cho con bú không nên tự ý dùng các chế phẩm từ cây kim tước chi. Trẻ nhỏ và người có thể trạng suy nhược cũng cần tránh tiếp xúc với thảo mộc lạ.
Những người đang điều trị bệnh lý nền bằng thuốc tây như thuốc đái tháo đường, thuốc hạ huyết áp hoặc thuốc chống đông máu cần hết sức thận trọng. Các phân đoạn hoạt chất của cây từng thể hiện tác động hạ đường huyết và hạ cholesterol trong thử nghiệm động vật [4], nguy cơ gây tương tác thuốc bất lợi khi dùng chung. Trước khi sử dụng bất kỳ bài thuốc dân gian nào từ loài cây này, người bệnh bắt buộc phải tham khảo ý kiến chuyên môn của bác sĩ.
Khuyến nghị áp dụng thực tế
Hiện tại chưa có hướng dẫn y khoa chính thức về liều lượng, cách thu hái hoặc cách đun nấu lá cây kim tước chi làm thực phẩm hàng ngày. Mọi chiết xuất đạt hiệu quả cao trong nghiên cứu đều dùng dung môi chuyên dụng như methanol, ethyl acetate hoặc butanol [1, 2, 4], cách sắc nước thông thường khó thu nhận trọn vẹn nhóm hoạt chất mong muốn.
Để tăng cường năng lực chống oxy hóa cho cơ thể một cách an toàn, độc giả nên ưu tiên nguồn polyphenol đã được kiểm chứng rõ ràng từ rau xanh, trái cây tươi và các loại trà thông dụng. Kim tước chi cần thêm nhiều nghiên cứu lâm sàng để làm rõ tiềm năng ứng dụng trước khi được đưa vào phác đồ chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

