Một dược (Commiphora myrrha) từ lâu đã được sử dụng trong y học dân gian tại một số khu vực thuộc Ả Rập và châu Phi để điều trị bệnh đái tháo đường [1]. Nhiều người tìm kiếm loại thảo dược này với hy vọng tìm thấy giải pháp tự nhiên nhằm ổn định đường huyết, thậm chí thay thế thuốc tây y.

Tuy nhiên, câu hỏi lớn đặt ra là: Tác dụng hạ đường huyết của một dược đã có bằng chứng lâm sàng xác thực trên người hay mới chỉ dừng lại ở các thí nghiệm trên động vật và ống nghiệm? Bằng chứng hiện tại cho thấy hầu hết dữ liệu mới chỉ đến từ phòng thí nghiệm và động vật, trong khi các thử nghiệm lâm sàng độc lập, quy mô lớn trên người bệnh tiểu đường vẫn đang thiếu hụt trầm trọng.

Kỳ vọng hạ đường huyết từ bài thuốc cổ truyền

Đái tháo đường là tình trạng rối loạn chuyển hóa đặc trưng bởi hiện tượng tăng đường huyết mạn tính [2]. Lượng đường trong máu tăng cao và không được kiểm soát có thể gây ra nhiều tổn thương nguy hiểm trên các cơ quan quan trọng như thận, tụy, gan và tim [2].

Bên cạnh tình trạng đường huyết cao, rối loạn lipid máu cũng xuất hiện ở gần 40% bệnh nhân tiểu đường [2]. Tình trạng này bao gồm tăng nồng độ triglyceride huyết thanh, tăng cholesterol toàn phần, tăng LDL-C và giảm HDL-C [2].

Chính vì tính chất mạn tính và biến chứng phức tạp của bệnh, các giải pháp thảo dược tự nhiên như một dược thu hút sự quan tâm lớn. Dẫu vậy, khoảng cách giữa việc sử dụng theo kinh nghiệm truyền thống và chứng minh lâm sàng hiện đại vẫn còn rất xa [1].

Cơ chế tác động được ghi nhận trong phòng thí nghiệm

Để giải mã khả năng hỗ trợ kiểm soát đường huyết của một dược, các nhà khoa học đã tiến hành phân tích trên các tế bào beta đảo tụy [1]. Một dược (Commiphora myrrha) được giả thuyết là có hoạt tính kích thích tiết insulin trực tiếp trên các tế bào beta tuyến tụy [1].

Các phân tích hóa thực vật cho thấy nhựa một dược chứa nhiều hoạt chất sinh học giá trị bao gồm alkaloid, flavonoid, glycoside và terpenoid [2]. Những hợp chất này thể hiện các đặc tính chống oxy hóa và chống đái tháo đường đáng kể [2].

Thành phần flavonoid trong dịch chiết thực vật có thể là yếu tố then chốt tạo nên tác dụng hạ đường huyết [2]. Flavonoid đóng vai trò như chất ức chế tiềm năng men alpha-amylase, đồng thời hỗ trợ khả năng sống sót và tái tạo của tế bào beta đảo tụy [2].

Bằng chứng trên tế bào: Kích thích tiết insulin nhưng cần cẩn trọng độc tính

Một nghiên cứu công bố năm 2021 đã đánh giá tác động trực tiếp của một dược trên dòng tế bào beta MIN6 từ chuột, cùng các đảo tụy nguyên phát phân lập từ cả chuột và người [1]. Mục tiêu là đánh giá tốc độ, dạng bài tiết insulin cũng như khả năng sống của tế bào qua thử nghiệm ATP và nhuộm trypan blue [1].

Kết quả ghi nhận khi tiếp xúc với dung dịch nhựa một dược ở nồng độ từ 0,5 đến 10 mg/ml, tế bào MIN6 tăng tiết insulin phụ thuộc theo nồng độ [1]. Tương tự, khi ủ các đảo tụy của chuột với nồng độ từ 0,1 đến 10 mg/ml, sự bài tiết insulin cũng được kích thích tỷ lệ thuận theo liều lượng [1].

Trong mô hình tưới máu liên tục, một dược ở nồng độ 2 mg/ml giúp tăng tiết insulin nhanh chóng và có thể phục hồi [1]. Nghiên cứu chỉ ra rằng ở mức nồng độ nhỏ hơn hoặc bằng 2 mg/ml, một dược không làm giảm khả năng sống sót hay tính toàn vẹn màng tế bào [1].

Dù vậy, giới hạn nghiêm trọng đã xuất hiện khi nâng cao liều lượng [1]. Ở các nồng độ cao hơn, hiện tượng bắt màu thuốc nhuộm trypan blue tăng rõ rệt, chứng minh tế bào đã bị tổn thương màng và dẫn đến chết tế bào [1]. Điều này cho thấy ranh giới giữa liều kích thích tiết insulin và liều gây độc tế bào là rất mong manh trong điều kiện nuôi cấy [1].

Bằng chứng trên động vật: Cải thiện đường huyết và mỡ máu

Trên mô hình động vật, các nghiên cứu tiến hành trên chuột cống trắng Wistar đực được gây tiểu đường bằng cách tiêm streptozotocin (STZ) nhằm đánh giá khả năng cải thiện chuyển hóa [3], [2]. Một nghiên cứu năm 2023 chỉ ra rằng dịch chiết nhựa một dược đường uống giúp cải thiện đáng kể chỉ số lipid máu ở chuột bị tiểu đường do STZ [2]. Nhựa một dược chứng minh có hoạt tính chống đái tháo đường và chống tăng lipid máu trong thử nghiệm tiền lâm sàng này [2].

Một nghiên cứu công bố năm 2019 thử nghiệm trên 48 con chuột Wistar đực bị gây tiểu đường bằng STZ liều 60 mg/kg tiêm màng bụng [3]. Động vật được chia ngẫu nhiên thành các nhóm đối chứng, nhóm tiểu đường, nhóm dùng metformin (300 mg/kg), và 3 nhóm dùng bài thuốc phối hợp đường uống qua ống thông dạ dày trong 28 ngày [3].

Bài thuốc kết hợp gồm dịch chiết cồn của Commiphora mukul, Commiphora myrrha (một dược) và dịch chiết thủy cồn của Kha tử (Terminalia chebula) [3]. Ba mức liều được thử nghiệm lần lượt là: liều 1 (438 mg/kg C. mukul + 214 mg/kg C. myrrha + 857 mg/kg T. chebula), liều 2 (642 mg/kg C. mukul + 214 mg/kg C. myrrha + 642 mg/kg T. chebula), và liều 3 (857 mg/kg C. mukul + 438 mg/kg C. myrrha + 1714 mg/kg T. chebula) [3].

Ở chuột đái tháo đường không can thiệp, đường huyết, triglyceride (TG), cholesterol toàn phần (TC), LDL-C và nồng độ malondialdehyde (MDA) ở gan đều tăng, trong khi HDL-C huyết tương, nồng độ insulin, hàm lượng thiol gan, hoạt tính superoxide dismutase (SOD) và catalase (CAT) bị sụt giảm [3].

Kết quả sau 28 ngày cho thấy chuột dùng bài thuốc ở liều 3 có sự sụt giảm rõ rệt về TC, TG, LDL-C và nồng độ MDA ở gan, đồng thời gia tăng HDL-C, insulin huyết tương, thiol gan, cũng như hoạt tính SOD và CAT so với nhóm bệnh không điều trị [3]. Ở liều 1 và liều 2, các chỉ số bất thường cũng được cải thiện đáng kể, ngoại trừ nồng độ insulin [3].

Tác dụng của bài thuốc phối hợp thảo dược này được ghi nhận tương đương với thuốc điều trị chuẩn metformin [3]. Thuốc metformin cải thiện nồng độ TC, TG, LDL-C, MDA gan, hàm lượng thiol và CAT nhưng không làm thay đổi đáng kể nồng độ insulin, HDL-C và hoạt tính SOD gan [3].

Bằng chứng lâm sàng ở người: Sự thật về những viên nang phối hợp

Dù dữ liệu tiền lâm sàng rất hứa hẹn, các bằng chứng trực tiếp từ thử nghiệm lâm sàng trên người chỉ dùng riêng lẻ một dược lại vô cùng hiếm hoi. Dữ liệu thử nghiệm ở người hiện tại chủ yếu đến từ các công thức đa thảo dược phối hợp [4].

Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược năm 2017 được tiến hành trên phụ nữ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 kèm rối loạn lipid máu [4]. Nghiên cứu này sử dụng viên nang kết hợp thảo dược (600 mg) bao gồm 200 mg chiết xuất quả kha tử (Terminalia chebula), 200 mg Commiphora mukul và 200 mg nhựa một dược (Commiphora myrrha), đối chứng với viên giả dược chứa 600 mg bột bánh mì nướng [4].

Bệnh nhân được chia thành 2 nhóm, uống viên phối hợp thảo dược hoặc giả dược với tần suất 3 lần một ngày trong liên tục 3 tháng [4]. Kết thúc thử nghiệm, nhóm phụ nữ dùng viên thảo dược phối hợp ghi nhận mức giảm có ý nghĩa thống kê về đường huyết lúc đói, cholesterol toàn phần và LDL-C, đồng thời tăng đáng kể chỉ số HDL-C so với thời điểm ban đầu và so với nhóm dùng giả dược [4].

Tuy nhiên, các chỉ số quan trọng khác gồm hemoglobin glycat hóa (HbA1c), triglyceride, ure máu (BUN), creatinine, men gan SGOT và SGPT lại không ghi nhận bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào sau 3 tháng can thiệp ở cả hai nhóm [4]. Thử nghiệm không ghi nhận tác dụng phụ không mong muốn nào [4].

Từ kết quả này, cần nhìn nhận khách quan: Nghiên cứu trên người chỉ thử nghiệm dạng phối hợp ba loại thảo dược trên đối tượng phụ nữ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 kèm rối loạn lipid máu, chứ không phải một dược đơn độc [4]. Không thể tách rời riêng rẽ hiệu quả của một dược trong công thức này, và chỉ số đường huyết dài hạn HbA1c vẫn không suy suyển [4].

Nguy cơ tương tác thuốc và nhóm đối tượng cần thận trọng

Một vấn đề an toàn y khoa tối quan trọng là nguy cơ tương tác thuốc. Nghiên cứu thực nghiệm công bố năm 2015 trên thỏ đã khảo sát ảnh hưởng của một dược lên dược động học của theophylline - một loại thuốc có khoảng điều trị hẹp [5]. Thỏ được cho uống theophylline (16 mg/kg) đơn độc hoặc phối hợp với hỗn dịch một dược trong nước muối sinh lý (176 mg/kg đường uống) [5].

Kết quả phân tích mẫu máu lấy tại nhiều thời điểm (từ 0 đến 36 giờ) bằng phương pháp HPLC cho thấy có sự khác biệt đáng kể về nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax), diện tích dưới đường cong (AUC, AUMC), thời gian bán thải (t1/2) và thời gian lưu trú trung bình (MRT) của theophylline khi dùng chung với một dược [5]. Thảo dược này đã làm thay đổi sự chuyển hóa và thải trừ của theophylline [5].

Nghiên cứu kết luận việc dùng đồng thời một dược làm thay đổi rõ rệt các thông số dược động học của theophylline và nếu được xác nhận trên người, điều này sẽ đòi hỏi phải hiệu chỉnh lại liều lượng hoặc tần suất dùng thuốc [5]. Người đang sử dụng theophylline hoặc các thuốc điều trị có khoảng an toàn hẹp tuyệt đối không tự ý dùng một dược khi chưa có hướng dẫn y khoa [5].

Ngoài ra, thử nghiệm lâm sàng năm 2017 chỉ tiến hành trên nhóm phụ nữ mắc tiểu đường tuýp 2 kèm rối loạn lipid máu [4]. Chưa có thử nghiệm lâm sàng quy mô trên nam giới, trẻ em hay phụ nữ mang thai và cho con bú; do đó người bệnh thuộc các nhóm này cần hết sức cẩn trọng.

Cách tiếp cận thực tế và lời khuyên cân bằng

Người bệnh đái tháo đường không nên nhầm lẫn giữa kết quả kích thích tiết insulin trong đĩa petri hay trên chuột với việc một dược có thể chữa khỏi bệnh ở người [1], [3]. Một dược không thể thay thế các phác đồ kiểm soát đường huyết hay thuốc điều trị đái tháo đường chuẩn mực.

Trong nghiên cứu lâm sàng kết hợp, liều dùng được ghi nhận là viên chứa 200 mg một dược (cùng 200 mg kha tử và 200 mg C. mukul), uống 3 lần một ngày trong 3 tháng [4]. Đối với việc sử dụng một dược đơn lẻ, hiện chưa có liều lượng hay thời điểm dùng chuẩn hóa trên người bệnh tiểu đường.

Người bệnh đang dùng thuốc hạ đường huyết, thuốc chuyển hóa qua gan hay theophylline cần trao đổi chi tiết với bác sĩ điều trị trước khi muốn dùng bất kỳ chế phẩm thảo dược nào chứa một dược [5]. Việc tự ý bổ sung có thể gây quá liều, tương tác thuốc bất lợi hoặc làm mất kiểm soát đường huyết ổn định.

Một dược là vị thuốc cổ truyền giàu tiềm năng chống oxy hóa và cải thiện chuyển hóa [3], [2]. Dẫu vậy, các bằng chứng hiện có phần lớn vẫn nằm ở mức tiền lâm sàng trên động vật và ống nghiệm [1], [2]. Người bệnh cần giữ cái nhìn tỉnh táo, ưu tiên tuân thủ chế độ dinh dưỡng, lối sống lành mạnh và y lệnh của bác sĩ thay vì đặt niềm tin quá mức vào thảo dược chưa hoàn thiện thử nghiệm lâm sàng.