Nhầm lẫn phổ biến giữa hai loại dược liệu
Nhiều người tìm mua các vị thuốc nam để chữa tiêu chảy, viêm đại tràng hoặc lỵ cấp tính thường được mách bảo sử dụng vỏ thân hoặc hạt của cây mức. Tuy nhiên, trên thị trường dược liệu, cái tên "mức lông" và "mức hoa trắng" thường bị dùng lẫn lộn, dẫn đến việc người bệnh mua phải loại cây không đúng tác dụng mong muốn.
Mức lông (thực vật thuộc chi Wrightia, điển hình như Wrightia tinctoria, Wrightia tomentosa, Wrightia pubescens) thường xuyên bị thu hái hoặc cố tình trộn lẫn với mức hoa trắng (Holarrhena antidysenterica, danh pháp đồng nghĩa là Holarrhena pubescens) [1]. Sự đánh tráo hay nhầm lẫn này không chỉ làm giảm hiệu quả điều trị tiêu chảy mà còn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho sức khỏe người dùng [1].
Nguy cơ khi dùng nhầm mức lông thay cho mức hoa trắng
Mức hoa trắng (Holarrhena antidysenterica hay Holarrhena pubescens) là thành phần quan trọng trong các công thức dược phẩm truyền thống nổi tiếng dùng trị lỵ và các chứng rối loạn tiêu hóa [1]. Ngược lại, mức lông (Wrightia tinctoria) dù cùng họ thực vật nhưng lại không mang các hoạt tính dược lý tương đương trong điều trị các bệnh lý đường ruột này [1].
Khi người bệnh bị tiêu chảy nhiễm khuẩn, lỵ trực trùng hoặc lỵ amip mà dùng nhầm mức lông, bệnh tình có thể không thuyên giảm, dẫn tới mất nước, kiệt sức và biến chứng nguy hiểm. Vấn đề tráo tạp chất này đã được ghi nhận trong nhiều tài liệu dược học quốc tế, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nhận diện đúng hai loài [1].
Đặc điểm hình thái và cách phân biệt hạt
Dù thân cây và lá của hai loài có nhiều nét tương đồng khiến người thu hái dễ nhầm, hạt của chúng lại có những khác biệt vật lý và cảm quan rất rõ nét [1].
Dấu hiệu nhận biết rõ ràng nhất nằm ở vị giác [1]. Hạt của cây mức hoa trắng (Holarrhena antidysenterica) có vị đắng cực kỳ đặc trưng, với chỉ số độ đắng được xác định lên tới 11.000 [1]. Trong khi đó, hạt của cây mức lông (Wrightia tinctoria) hoàn toàn không có vị đắng [1].
Về tác dụng kháng khuẩn, dịch chiết cloroform và methanol từ hạt của cả hai loài cây đều cho thấy khả năng ức chế một số vi khuẩn như Bacillus subtilis, Staphylococcus aureus, Pseudomonas aeruginosa và Escherichia coli trong phòng thí nghiệm [1]. Tuy nhiên, chỉ có hạt của Holarrhena antidysenterica và Holarrhena pubescens mới được sử dụng trong y học truyền thống Ấn Độ để điều trị bệnh lỵ và nhiều rối loạn tiêu hóa đa dạng [1]. Hạt của Wrightia tinctoria dù có hình dáng bên ngoài rất giống nhưng không có các dược tính trị tiêu hóa này [1].
Thành phần hóa học và nhóm alkaloid đặc trưng
Sự khác biệt cốt lõi về tác dụng chữa bệnh bắt nguồn từ thành phần hoạt chất sinh học bên trong mỗi loài. Trong khi mức hoa trắng chứa nhóm alkaloid đặc hiệu cho đường tiêu hóa, chi Wrightia lại mang các nhóm hoạt chất hoàn toàn khác.
Một nghiên cứu năm 2019 về hóa thực vật học trên các loài thuộc chi Wrightia (bao gồm W. hanleyi, W. tomentosa, W. pubescens, W. religiosa) đã làm rõ sự hiện diện của hợp chất alkaloid nhóm quinazolinone là tryptanthrin [2]. Nghiên cứu phát hiện rằng chất wrightiadione trước đây từng được báo cáo phân lập từ W. tomentosa vào năm 1992, cũng như từ W. pubescens và W. religiosa năm 2015, thực chất là sự xác định nhầm của tryptanthrin do hai chất này có cùng khối lượng phân tử danh định và đồng cấu trúc [2]. Tryptanthrin là một alkaloid tự nhiên, còn wrightiadione không hề tồn tại trong tự nhiên như các báo cáo cũ từng ghi nhận [2].
Bên cạnh alkaloid tryptanthrin, lá của cây mức lông (Wrightia tinctoria) còn chứa nhiều hợp chất tự nhiên khác [3]. Một phân tích năm 2021 bằng phương pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GC-MS) đối với dịch chiết methanol từ lá W. tinctoria đã định danh được các thành phần chính gồm flavone 4-OH, 5-OH, 7-di-O-glucoside (29,34%), 24-norursa-3,12-diene (20,36%), mome inositol (12,02%), methyl commate A (5,20%), stigmast-5-en-3-ol (3,14%), methyl commate B (1,76%), neophytadiene (1,61%), squalene (1,57%), phytol palmitate (1,37%), phytol (0,94%), 8,11,14-eicosatrienoic acid methyl ester (0,60%), gamma-tocopherol (0,49%), eicosanoic acid methyl ester (0,32%) và beta-caryophyllene (0,22%) [3]. Dịch chiết này thể hiện khả năng dọn gốc tự do DPPH đáng kể [3].
Ngoài ra, một nghiên cứu năm 2013 đã phân lập và tinh sạch thành công một loại protein dự trữ hạt là 11S globulin (gọi tắt là WTG) từ hạt của cây mức lông Wrightia tinctoria [4]. WTG có khối lượng khoảng 56 kDa ở điều kiện không khử, gồm hai chuỗi polypeptide chính khoảng 32-34 kDa và 22-26 kDa ở điều kiện khử [4]. Protein này có cấu trúc thứ cấp chiếm ưu thế bởi nếp gấp beta (44,2%) và xoắn alpha (10,3%), thể hiện hoạt tính gây ngưng kết hồng cầu, tương tự như hoạt tính của lectin [4].
Bằng chứng khoa học về dược tính của mức lông
Dù không có công dụng chữa lỵ như mức hoa trắng, mức lông (Wrightia tinctoria) lại được khoa học ghi nhận các tiềm năng sinh học khác.
Về khả năng hỗ trợ bệnh vẩy nến, một nghiên cứu năm 2014 đánh giá dịch chiết cồn-nước từ lá Wrightia tinctoria trên mô hình đuôi chuột ở liều 200 mg/kg thể trọng (chuột nặng 25-30 g) [1]. Kết quả cho thấy dịch chiết làm tăng mức độ tạo sừng bình thường (orthokeratosis) có ý nghĩa thống kê (P < 0,01) so với nhóm chứng, đạt hoạt lực 70,18%, cao hơn so với chất đối chứng là acid isoretinoic ở liều 0,5 mg/kg (đạt 57,43%) [1]. Dịch chiết cũng thể hiện tiềm năng chống oxy hóa rõ rệt qua các thử nghiệm dọn gốc tự do DPPH, oxit nitric và hydro peroxide [1].
Về hoạt tính ức chế tế bào ung thư khoang miệng, nghiên cứu công bố năm 2025 trên dòng tế bào KB cho thấy dịch chiết ethanol từ vỏ thân Wrightia tinctoria có độc tính tế bào cao nhất với nồng độ ức chế 50% (IC50) là 75,084 microg/ml, so với dịch chiết ethyl acetate (179,743 microg/ml) và dịch chiết nước (115,258 microg/ml) [5]. Nồng độ IC50 của dịch chiết ethanol và ethyl acetate kích thích hiện tượng chết tế bào theo chương trình (apoptosis) và làm tăng biểu hiện của các enzym caspase 3 và caspase 7 qua kỹ thuật ELISA gián tiếp [5]. Một nghiên cứu khác năm 2024 cũng trên dòng tế bào ung thư miệng KB xác định dịch chiết ethanol của W. tinctoria có giá trị IC50 là 48,89 microg/mL sau 24 giờ thử nghiệm MTT (so với doxorubicin là 9,62 microg/mL); đồng thời ở nồng độ 59 microg/mL, dịch chiết tạo hiện tượng đứt gãy DNA dạng bậc thang và làm xuất hiện caspase 3 bị phân cắt qua nhuộm Western blot [6].
Về bệnh u hắc tố ác tính, nghiên cứu năm 2015 đã phân lập phân đoạn bán tinh khiết DW-F5 từ dịch chiết dichloromethane của lá Wrightia tinctoria [7]. DW-F5 cho thấy khả năng chống u hắc tố, ngăn chặn di căn và sinh mạch máu trên chuột suy giảm miễn dịch NOD-SCID mà không thể hiện độc tính in vivo [7]. Phân đoạn này ức chế các con đường truyền tín hiệu qua BRAF, WNT/beta-catenin và Akt-NF-kappaB hội tụ tại chất điều hòa MITF-M, dẫn đến sự triệt tiêu MITF-M [7]. Tinh sạch DW-F5 đã thu được hai thành phần gây độc tế bào gồm tryptanthrin và một phân đoạn béo chưa xác định [7].
Về hoạt tính kháng virus, nghiên cứu năm 2015 thử nghiệm dịch chiết của các cây thuốc Nam Ấn Độ chống lại virus cúm H1N1 trên tế bào MDCK [8]. Wrightia tinctoria cho giá trị IC50 đạt 2,25 microg/ml (tốt hơn thuốc đối chứng oseltamivir với IC50 là 6,44 microg/ml) và chỉ số điều trị (TI) đạt 12,67, mở ra hướng nghiên cứu phát triển thuốc kháng virus mới [8].
Hiểu lầm thường gặp và giới hạn của bằng chứng
Hiểu lầm phổ biến nhất là cho rằng "cây mức nào cũng trị được tiêu chảy và kiết lỵ". Sự thật là chỉ có mức hoa trắng (Holarrhena) mới có công dụng chữa lỵ đã được kiểm chứng y học truyền thống, trong khi mức lông (Wrightia) không có dược tính trị rối loạn tiêu hóa tương tự [1].
Ngoài ra, nhiều người nghe nói mức lông có tác dụng kháng ung thư hoặc kháng virus nên đã tự ý tìm mua lá hoặc vỏ cây về đun uống với hy vọng điều trị bệnh. Cần lưu ý rằng các kết quả về chống ung thư miệng, ức chế u hắc tố hay chống cúm H1N1 của Wrightia tinctoria mới chỉ dừng lại ở thử nghiệm trong ống nghiệm (in vitro) trên dòng tế bào hoặc trên chuột bị suy giảm miễn dịch [2, 3, 5, 8]. Chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào chứng minh các dịch chiết này chữa khỏi ung thư hoặc cúm trên cơ thể người.
Ai nên thận trọng khi sử dụng?
Người đang bị tiêu chảy cấp, viêm ruột nhiễm trùng hoặc nghi ngờ mắc bệnh lỵ cần tuyệt đối thận trọng, không tự ý dùng các loại dược liệu mang tên "mức" trôi nổi khi chưa rõ đó là mức lông hay mức hoa trắng [1].
Phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ cần tránh tự ý dùng các bài thuốc sắc từ vỏ hay hạt của các loài cây này. Dữ liệu khoa học hiện tại chỉ thực hiện trên động vật thí nghiệm, tế bào ung thư hoặc phân tích hóa học trong phòng thí nghiệm, hoàn toàn chưa có nghiên cứu an toàn trên phụ nữ mang thai hoặc trẻ nhỏ [1, 2, 3, 5, 8]. Những người có bệnh lý gan, thận mạn tính hoặc đang dùng thuốc tây y điều trị nhiễm trùng cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng bất kỳ thảo dược nào.
Áp dụng thực tế để tránh nhầm lẫn
Khi có nhu cầu sử dụng mức hoa trắng để trị các vấn đề tiêu hóa, người dùng nên tìm mua tại các cơ sở dược liệu uy tín, có nguồn gốc và kiểm nghiệm rõ ràng [1].
Cách kiểm tra thực tế đơn giản nhất đối với hạt là nếm thử một lượng rất nhỏ: hạt mức hoa trắng thật có vị đắng gắt đặc trưng, trong khi hạt mức lông hoàn toàn không có vị đắng [1]. Tuyệt đối không tự ý khai thác vỏ cây trong tự nhiên khi không có chuyên môn phân loại thực vật. Mọi việc dùng thảo dược trị tiêu chảy kéo dài hoặc đi ngoài ra máu cần có sự thăm khám và chỉ định của bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa.
Việc phân biệt đúng mức hoa trắng và mức lông là yếu tố sống còn nhằm đảm bảo hiệu quả điều trị và an toàn tính mạng. Người tiêu dùng cần tỉnh táo trước các tên gọi dân gian mập mờ, chỉ sử dụng dược liệu đã được chuẩn hóa và luôn tham vấn ý kiến chuyên môn y tế khi gặp các vấn đề sức khỏe.

