Nỗi băn khoăn về dền cơm trong thai kỳ
Dền cơm (Amaranthus lividus) là loại rau dân dã, thường mọc hoang quanh vườn nhà hoặc bờ ruộng tại Việt Nam. Nhiều thai phụ truyền tai nhau việc ăn rau dền cơm để bổ sung vi chất và làm mát cơ thể trong thai kỳ.
Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu dền cơm có thực sự cung cấp đủ folate (axit folic tự nhiên) cho mẹ bầu hay không, và liệu việc thu hái tự nhiên có tiềm ẩn nguy cơ tích lũy nitrat hoặc các chất độc từ đất hay không.
Bằng chứng khoa học hiện nay chỉ ra rằng folate đóng vai trò sống còn trong việc ngăn ngừa dị tật ống thần kinh thai nhi [2, 4, 7]. Dền cơm có chứa nhiều hợp chất chống oxy hóa quý [5, 8], nhưng chưa có dữ liệu đo lường cụ thể về hàm lượng folate cũng như mức tồn dư nitrat của loại rau dại này trong các nghiên cứu được cung cấp.
Thai phụ có thể ăn dền cơm như một loại rau xanh đa dạng trong bữa ăn thường nhật với lượng vừa phải. Tuy nhiên, dền cơm không thể thay thế viên uống bổ sung axit folic chuyên biệt theo chỉ định y khoa.
Vai trò sống còn của folate đối với thai nhi
Folate là thuật ngữ chung chỉ các dạng hoạt động chuyển hóa của axit folic (vitamin B9), một vi chất thiết yếu tham gia trực tiếp vào quá trình chuyển hóa tế bào cơ bản [1]. Chất này cần thiết cho quá trình tổng hợp, sửa chữa và methyl hóa DNA của tế bào [2, 6].
Trong giai đoạn mang thai, nhu cầu folate của cơ thể tăng cao nhằm đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của mô thai nhi, bánh nhau và mô cơ thể người mẹ [2]. Thiếu hụt folate cùng với rối loạn tự miễn thụ thể folate là những nguyên nhân chính dẫn đến các biến chứng thai kỳ và bất thường cấu trúc, chức năng não bộ của thai nhi [1].
Folate đặc biệt quan trọng trong giai đoạn quanh thời điểm thụ thai (ngay trước và sau khi thụ thai) để bảo vệ thai nhi khỏi các dị tật ống thần kinh (NTD) [3]. Nghiên cứu cho thấy việc bổ sung axit folic trước sinh đã giúp giảm đáng kể tỷ lệ mắc dị tật ống thần kinh ở các thai kỳ [1].
Ngoài ra, ở dạng tuần hoàn chiếm ưu thế trong máu là 5-methyl-tetrahydrofolate, vi chất này duy trì nồng độ ổn định trong cơ thể mà không gây cản trở hiệu lực của một số thuốc điều trị khác [4]. Khi thai kỳ tiến triển, nồng độ folate tuần hoàn của mẹ có xu hướng suy giảm trong khi nồng độ homocysteine toàn phần tăng lên [2].
Các nghiên cứu nói gì về nồng độ folate trong thai kỳ
Mối liên hệ giữa nồng độ folate trong cơ thể người mẹ, thai nhi và dịch ối đã được phân tích qua nhiều công trình nghiên cứu lâm sàng.
Một nghiên cứu công bố năm 1998 đã so sánh nồng độ folate và vitamin B12 trong nước ối của các thai kỳ bị dị tật ống thần kinh với nhóm thai kỳ bình thường ở tuần thai 15 đến 20 [5]. Kết quả cho thấy ở thai kỳ bình thường, nồng độ B12 và folate trong nước ối giảm lần lượt 67% và 62% trong giai đoạn này, tương ứng với sự gia tăng thể tích nước ối [5]. Nồng độ folate trung bình ở nhóm dị tật ống thần kinh là 3,1 ± 1,6 ng/mL, thấp hơn mức 3,9 ± 1,2 ng/mL ở nhóm bình thường [5]. Hệ số tương quan giữa tuổi thai và folate nước ối là -0,9599 (p ≤ 0,002) [5].
Ngược lại, một nghiên cứu năm 1992 trên 32 phụ nữ chấm dứt thai kỳ ở tuần thứ 14 đến 21 (gồm 24 ca vì lý do xã hội và 8 ca thai nhi bị dị tật ống thần kinh) lại ghi nhận kết quả khác [6]. Các nhà khoa học nhận thấy ở thai kỳ bình thường, nồng độ folate huyết thanh thai nhi và hồng cầu cao hơn nồng độ của mẹ [6]. Tuy nhiên, nghiên cứu này không tìm thấy sự khác biệt về nồng độ folate trong dịch ối, máu mẹ hay máu thai giữa nhóm dị tật ống thần kinh và nhóm bình thường, cho thấy không có bằng chứng thiếu hụt folate trong nhóm nhỏ này ở giữa thai kỳ [6].
Năm 2019, một nghiên cứu cắt ngang hồi cứu trên 175 sản phụ Ba Lan khỏe mạnh trong độ tuổi từ 17 đến 42 đã đo lường folate khi chuyển dạ [2]. Nghiên cứu chỉ ra mối tương quan chặt chẽ giữa nồng độ folate trong dịch ối và huyết thanh mẹ (rho = 0,67, p < 0,001), cũng như giữa dịch ối và máu cuống rốn (rho = 0,49, p < 0,001) [2]. Chỉ số khối cơ thể trước mang thai và tỷ lệ cân nặng mẹ/cân nặng trẻ sơ sinh là những yếu tố dự báo độc lập đối với nồng độ folate dịch ối và máu mẹ [2].
Bên cạnh đó, nghiên cứu năm 2020 trên 303 phụ nữ khám thai tại Ghana cho thấy tỷ lệ bổ sung axit folic quanh thời điểm thụ thai chỉ đạt 28,7% [3]. Những thai phụ bắt đầu khám thai muộn sau 3 tháng đầu giảm tới 91% khả năng uống axit folic đúng thời điểm (AOR 0,09; 95% CI: 0,04-0,22) [3].
Dền cơm có những hoạt chất gì theo khoa học?
Dền cơm (Amaranthus lividus) là đối tượng của một số nghiên cứu chiết xuất hóa thực vật nhằm đánh giá các đặc tính sinh học.
Một nghiên cứu năm 2022 đã phân tích dịch chiết lá dền cơm Amaranthus lividus bằng kỹ thuật GC-MS và HPLC [7]. Kết quả phân tích GC-MS chỉ ra rằng phytol và beta-sitosterol là các hợp chất chính trong lá [7]. Phân tích HPLC xác định sự có mặt của các hợp chất phenolic và flavonoid gồm axit gallic, axit caffeic, quercetin, vanillin và kaempferol [7].
Nghiên cứu này cũng ghi nhận dịch chiết dền cơm có hiệu quả dọn gốc tự do 75,6% đối với DPPH và 85,2% đối với gốc superoxide [7]. Dịch chiết thể hiện khả năng kháng khuẩn đối với các vi khuẩn thử nghiệm, với vòng ức chế lớn nhất đạt 14,3 ± 0,7 mm trên Bacillus subtilis [7]. Đặc biệt, dịch chiết giúp giảm từ 33,13% đến 68,59% sự hình thành các sai lệch nhiễm sắc thể (như phân bố không đều chất nhiễm sắc, tạo vi nhân, đứt đoạn nhiễm sắc thể) và ức chế tăng sinh tế bào 25,7% thông qua tương tác với enzyme telomerase [7].
Một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm công bố năm 2016 trên dòng tế bào u nguyên bào thần kinh ở người (SH-SY5Y) bị gây stress oxy hóa bởi H2O2 cho thấy dịch chiết methanol của lá dền cơm (A. lividus) giúp giảm đáng kể độc tính tế bào và giảm tích tụ các gốc oxy hóa nội bào [8]. Chiết xuất này cũng làm giảm biểu hiện của các gen liên quan đến stress oxy hóa như HMOX-1, RAGE và RelA/NF-kappaB [8].
Cần nhấn mạnh rằng các hoạt tính sinh học, chống đột biến và bảo vệ thần kinh của dền cơm mới chỉ được thử nghiệm trên tế bào nuôi cấy trong ống nghiệm và mô hình hóa học [5, 8]. Chưa có thử nghiệm lâm sàng can thiệp trên phụ nữ mang thai về tác dụng của dền cơm.
Rủi ro nitrat và giới hạn từ dữ liệu nghiên cứu
Nhiều người cho rằng rau dại tự nhiên luôn an toàn tuyệt đối. Tuy nhiên, các loài rau mọc hoang dại như dền cơm có khả năng hấp thụ các hợp chất nitrat và kim loại nặng từ đất trồng, đặc biệt nếu mọc ở vùng đất canh tác nông nghiệp lạm dụng phân bón hóa học hoặc nguồn nước ô nhiễm.
Hiện tại, trong các trích đoạn dữ liệu khoa học được công bố, không có số liệu đo lường cụ thể về nồng độ nitrat tồn dư trong cây dền cơm hoang dại. Do thiếu vắng các báo cáo định lượng, nguy cơ tích lũy nitrat khi mẹ bầu ăn nhiều rau dền cơm hoang vẫn là một mối lo ngại cần được lưu ý thận trọng.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc bổ sung folate đơn thuần qua đường ăn uống có thể gặp rào cản sinh học. Nghiên cứu tổng quan năm 2021 nhấn mạnh sự xuất hiện của tự kháng thể kháng thụ thể folate alpha (FRAb) có thể ngăn chặn vận chuyển folate qua nhau thai vào thai nhi [1]. Tự kháng thể này xuất hiện ở khoảng 70% trẻ mắc chứng tự kỷ và liên quan đến các ca mang thai dị tật ống thần kinh [1]. Trong các trường hợp này, việc tăng cường thực phẩm thông thường không đảm bảo bù đắp đủ nhu cầu thiếu hụt ở mô thần kinh [1].
Những hiểu lầm thường gặp khi dùng dền cơm
Hiểu lầm phổ biến nhất là xem dền cơm như nguồn cung cấp axit folic thay thế hoàn toàn thuốc bổ tổng hợp. Dù rau dền chứa các hợp chất chống oxy hóa như flavonoid và polyphenol [7], các tài liệu nghiên cứu chưa cung cấp con số cụ thể về hàm lượng folate trong 100g dền cơm. Phụ nữ mang thai không nên bỏ viên uống vi chất được kê đơn chỉ để dựa vào ăn rau dại.
Hiểu lầm thứ hai là tin rằng rau dền cơm có thể chữa khỏi các rối loạn thần kinh hoặc dị tật bẩm sinh nhờ đặc tính bảo vệ tế bào thần kinh. Các kết quả giảm tổn thương tế bào và giảm biểu hiện gen RAGE mới chỉ diễn ra trên tế bào thần kinh SH-SY5Y trong phòng thí nghiệm [8], hoàn toàn chưa được kiểm chứng hiệu quả điều trị trên người bệnh hay thai phụ.
Hiểu lầm thứ ba là cho rằng hái rau hoang dại ở bất cứ đâu cũng an toàn vì không có thuốc trừ sâu. Thực tế, đất hoang ven mương rãnh hay gần ruộng lúa thâm canh có thể chứa hàm lượng phân đạm nitrat và kim loại nặng cao, rủi ro ngấm vào rau mà mắt thường không thể phát hiện.
Nhóm phụ nữ mang thai nào cần thận trọng?
Thai phụ mắc các bệnh lý chuyển hóa hoặc có tiền sử thai kỳ bất thường cần đặc biệt lưu ý trước khi bổ sung bất kỳ loại thảo mộc, rau dại nào vào chế độ ăn.
Phụ nữ có tiền sử mang thai bị dị tật ống thần kinh, sảy thai liên tiếp hoặc hiếm muộn cần được xét nghiệm và tư vấn y khoa chuyên sâu, bởi cơ chế thiếu hụt folate có thể liên quan đến tự kháng thể thụ thể folate (FRAb) cần phác đồ điều trị chuyên biệt [1].
Thai phụ đang điều trị sốt rét bằng các thuốc ức chế folate (như sulfadoxine/pyrimethamine) cần tuân thủ hướng dẫn dùng thuốc nghiêm ngặt của bác sĩ, do việc dùng đồng thời folate liều không phù hợp có thể ảnh hưởng đến hiệu lực thuốc [4].
Những người có tiền sử dị ứng thực vật, hệ tiêu hóa kém nhạy cảm hoặc đang dùng các thuốc điều trị mạn tính cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa sản hoặc chuyên gia dinh dưỡng trước khi dùng dền cơm thường xuyên.
Áp dụng thực tế an toàn cho mẹ bầu
Để tận dụng các hợp chất thực vật có ích mà vẫn bảo đảm an toàn cho thai kỳ, thai phụ nên áp dụng các nguyên tắc sau:
- Nguồn gốc thu hái: Chỉ sử dụng dền cơm được trồng hoặc hái tại những khu vườn sạch, xa nguồn nước thải công nghiệp, rãnh ô nhiễm hoặc khu vực phun thuốc hóa học nông nghiệp để hạn chế tối đa nguy cơ tồn dư nitrat và kim loại nặng.
- Sơ chế và chế biến: Rửa sạch rau nhiều lần dưới vòi nước chảy. Nấu chín kỹ dạng canh hoặc luộc, không ăn sống hoặc ép nước uống tái sống để phòng tránh nhiễm khuẩn.
- Tần suất sử dụng: Sử dụng với lượng vừa phải như một món rau đổi vị trong tuần xen kẽ với các loại rau xanh khác. Không ăn dền cơm liên tục nhiều ngày hay dùng với số lượng quá lớn.
- Tuân thủ bổ sung vi chất: Tiếp tục duy trì việc bổ sung axit folic dạng viên uống theo đúng liều lượng bác sĩ sản khoa chỉ định, đặc biệt trong giai đoạn chuẩn bị mang thai và 3 tháng đầu [3].
Kết luận
Dền cơm là loại rau quen thuộc chứa nhiều hợp chất chống oxy hóa và kháng khuẩn tiềm năng trên các mô hình nghiên cứu phòng thí nghiệm [5, 8]. Tuy nhiên, chưa có bằng chứng khẳng định hàm lượng folate cụ thể trong dền cơm cũng như mức độ tồn dư nitrat an toàn của loại rau dại này. Thai phụ nên duy trì chế độ ăn đa dạng với lượng vừa phải, luôn nấu chín kỹ và tuyệt đối tuân thủ chỉ định dùng viên bổ sung axit folic của bác sĩ chuyên khoa để bảo vệ sức khỏe cho cả mẹ và con.

