Bèo cái (tên khoa học là Pistia stratiotes) vốn là loài thực vật thủy sinh quen thuộc tại các vùng sông nước, kênh rạch và ao hồ khắp Việt Nam. Trong kinh nghiệm dân gian, loài cây này từng được nhiều người truyền tai nhau thu hái về phơi khô hoặc sắc nước uống nhằm mục đích thanh nhiệt, giải độc hoặc chữa mẩn ngứa ngoài da. Thói quen tiện đâu hái đó tại các mương nước, ao tù gần khu dân cư hay cánh đồng khiến không ít người tin rằng cây cỏ tự nhiên luôn lành tính.
Tuy nhiên, việc tùy tiện thu hái và sử dụng bèo cái từ các nguồn nước không kiểm soát tiềm ẩn rủi ro sức khỏe rất nghiêm trọng. Nhiều nghiên cứu khoa học hiện đại đã chứng minh bèo cái là loài thực vật có khả năng hấp thụ và tích tụ cực mạnh các kim loại nặng độc hại như chì và cadmi từ môi trường nước ô nhiễm. Nấu nước uống loài cây này đồng nghĩa với việc đưa trực tiếp lượng độc chất tích tụ vào cơ thể, gây nguy cơ ngộ độc cấp tính hoặc mãn tính.
Cơ chế biến bèo cái thành "máy lọc" kim loại
Bèo cái phát triển hệ rễ chùm dày đặc thả trôi nổi trong nước, đóng vai trò như một bộ lọc sinh học tự nhiên khổng lồ. Về mặt sinh lý thực vật, loài cây này sở hữu các cơ chế đặc biệt để chống chịu và giam giữ độc chất thâm nhập vào mô tế bào [1]. Nghiên cứu chỉ ra rằng chu trình ascorbate-glutathione (AsA-GSH) cùng hệ thống glyoxalase phối hợp nhịp nhàng giúp bèo cái giảm thiểu tình trạng stress oxy hóa và stress carbonyl do độc chất gây ra [1].
Nhờ khả năng dung nạp này, cây không chết ngay khi gặp nguồn nước ô nhiễm mà ngược lại, liên tục hút các ion kim loại hòa tan để tích tụ vào tế bào rễ và thân lá [1]. Khi bèo cái phát triển trong môi trường chứa nước rỉ rác hoặc nước thải công nghiệp, các mô hình hấp thụ đẳng nhiệt Langmuir và Freundlich đã chứng minh quá trình hấp thụ kim loại diễn ra rất chủ động và thuận lợi [2]. Điều này biến loài cây thủy sinh này thành công cụ xử lý ô nhiễm tuyệt vời cho môi trường, nhưng lại biến nó thành "kho chứa độc chất" cực kỳ nguy hiểm nếu con người sử dụng làm thực phẩm hay thuốc uống.
Bằng chứng về khả năng tích tụ chì và cadmi
Khả năng tích lũy kim loại nặng của bèo cái đã được kiểm chứng qua hàng loạt công trình nghiên cứu trên các nguồn nước ô nhiễm thực tế cũng như trong phòng thí nghiệm.
Tại một nghiên cứu công bố năm 2022, bèo cái được thử nghiệm trong điều kiện đồng ô nhiễm kẽm và cadmi suốt 18 ngày [1]. Kết quả phân tích cho thấy có từ 88,13% đến 96,96% lượng cadmi tích tụ chặt chẽ trong rễ bèo [1]. Đáng chú ý, ở các nghiệm thức ô nhiễm nặng, hệ số tích lũy sinh học (BCF) ở cả rễ lẫn chồi cùng hệ số chuyển vị (TF) đều lớn hơn 1, với hàm lượng cadmi trong chồi lá đạt mức không dưới 100 mg/kg [1]. Các nhà khoa học kết luận bèo cái là loài siêu tích lũy cadmi [1].
Nghiên cứu thực địa năm 2024 tại sông Oued Fez đo lường nồng độ kim loại trong nước và mô thực vật [3]. Kết quả ghi nhận rễ bèo cái thể hiện khả năng tích lũy sinh học cực cao, hấp thụ lượng sắt lên tới 19.726 mg/kg và nhôm lên tới 15.128 mg/kg, đồng thời xác nhận khả năng huy động các kim loại độc hại như chì và cadmi từ dòng chảy [3].
Trước đó, một nghiên cứu năm 2018 kiểm tra bèo cái trồng trong nước thải nhà máy đường ở các nồng độ khác nhau suốt 60 ngày [4]. Nghiên cứu phát hiện hệ số tích lũy sinh học (BF) của nhiều kim loại nặng đều lớn hơn 1 ở nồng độ nước thải 50% và 75% [4]. Đặc biệt, hệ số làm giàu (EF) đối với cadmi đạt mức lớn hơn 2, khẳng định loài cây này làm giàu cadmi ở mức độ đáng kể [4].
Một khảo sát khác năm 2015 tại các lưu vực của hồ Mariut (Ai Cập) phân tích các chỉ số sinh thái và kim loại trong bèo cái [5]. Dữ liệu cho thấy hệ số tích lũy sinh học của hầu hết kim loại nặng đều lớn hơn 1, đồng thời ghi nhận mối tương quan thuận rõ rệt giữa nồng độ niken và cadmi trong nước với lượng tích lũy trong rễ và lá bèo [5].
Khả năng rút kim loại của bèo cái còn được ghi nhận tại nghiên cứu năm 2025 trên nước rỉ rác thuộc da [2]. Sau 30 ngày xử lý, bèo cái đạt hiệu suất loại bỏ cadmi lên tới 78,49%, crom 79,04% và đồng 88,11% [2]. Hệ số chuyển vị lớn hơn 1 một lần nữa chứng minh bèo cái là thực vật siêu tích tụ [2].
Nghiên cứu năm 2019 về nước thải nhà máy giấy cũng xác nhận nồng độ cadmi, chì, đồng, kẽm và sắt trong rễ, lá và toàn bộ cây bèo cái bị ảnh hưởng trực tiếp bởi nồng độ nước thải tiếp xúc [6]. Ngay cả trong môi trường nước nghèo dinh dưỡng, nghiên cứu năm 2020 chỉ ra bèo cái hấp thụ kim loại rất nhanh; chỉ sau 1 ngày tiếp xúc, hàm lượng tích lũy trong toàn bộ mô cây đã đạt 14,9 mg/kg đối với chì và 2,21 mg/kg đối với cadmi [7].
Kim loại đi vào lá: Mối họa ngộ độc tiềm ẩn
Nhiều người lầm tưởng độc chất chỉ bám ở chùm rễ bên dưới, chỉ cần ngắt bỏ rễ và lấy phần lá bên trên đem rửa sạch, phơi khô là có thể an tâm sử dụng. Đây là quan niệm hoàn toàn sai lầm.
Các thông số khoa học như hệ số tích lũy sinh học (BCF/BF) và hệ số chuyển vị (TF) lớn hơn 1 xuất hiện trong nhiều điều kiện thí nghiệm chứng minh kim loại nặng không chỉ dừng lại ở rễ mà còn vận chuyển mạnh mẽ lên các bộ phận trên mặt nước [1], [2]. Nghiên cứu xác nhận hàm lượng cadmi trong phần thân chồi lá bèo cái có thể vượt mức 100 mg/kg [1]. Ngay cả khi hệ số chuyển vị thấp hơn 1 ở một số môi trường nước khác, kim loại nặng vẫn phân tán vào mô lá bèo cái [4], [5], [6].
Chì và cadmi là những kim loại cực độc, không bị phân hủy hay bay hơi qua quá trình rửa nước, phơi sấy hay đun sôi thông thường. Khi uống nước sắc từ bèo cái nhiễm độc, các kim loại này sẽ ngấm trực tiếp qua đường tiêu hóa. Cadmi tích tụ lâu dài phá hủy chức năng lọc của cầu thận, làm tổn thương xương khớp và gây độc tế bào. Trong khi đó, chì gây ức chế tủy xương tạo máu, hủy hoại hệ thần kinh và làm suy giảm chức năng gan, thận nghiêm trọng.
Giới hạn sinh học của cây và bằng chứng nghiên cứu
Mặc dù bèo cái có sức sống bền bỉ và khả năng làm sạch nước thải ấn tượng, loài cây này cũng có những ngưỡng chịu đựng sinh học nhất định trước độc chất.
Khi nồng độ ô nhiễm vượt ngưỡng quá cao, bèo cái bắt đầu xuất hiện các tổn thương rõ rệt. Thí nghiệm đồng ô nhiễm cho thấy khi nồng độ kẽm và cadmi tăng cao trong 18 ngày, cây bị suy giảm khả năng chịu đựng, hàm lượng diệp lục trong lá sụt giảm, tính thấm màng sinh chất tăng lên, độc chất methylglyoxal (MG) tích tụ ồ ạt kèm theo các triệu chứng nhiễm độc nhìn thấy rõ bằng mắt thường [1]. Nghiên cứu năm 2024 cũng ghi nhận khi tiếp xúc với nồng độ kẽm 8 mg/L hoặc đồng 1 mg/L, tốc độ tăng trưởng tương đối của bèo cái giảm mạnh xuống còn 6,33% và 6,90% so với mức 10.86% ở nhóm đối chứng, đồng thời lượng dịch tiết từ rễ bị suy giảm rõ rệt [8].
Cần lưu ý rằng các tài liệu khoa học hiện nay đều tập trung nghiên cứu bèo cái dưới góc độ xử lý ô nhiễm môi trường (phytoremediation) hoặc làm sinh vật chỉ thị ô nhiễm nguồn nước [1], [5]. Chưa có bất kỳ nghiên cứu lâm sàng hay thử nghiệm an toàn dược lý nào khẳng định nước sắc bèo cái tự nhiên an toàn để làm nước uống hay chữa bệnh cho người.
Những ai tuyệt đối phải tránh xa bèo cái hoang dại?
Do nguy cơ tồn dư kim loại nặng không thể dự đoán bằng mắt thường, một số nhóm đối tượng tuyệt đối không được sử dụng bèo cái hái từ tự nhiên:
- Phụ nữ mang thai và đang cho con bú: Chì và cadmi qua được hàng rào nhau thai và sữa mẹ, gây dị tật thai nhi, tổn thương hệ thần kinh non nớt của trẻ và dẫn đến sảy thai.
- Trẻ nhỏ: Hệ tiêu hóa và thần kinh của trẻ rất nhạy cảm; nhiễm độc chì dù ở lượng cực nhỏ cũng gây chậm phát triển trí tuệ, suy dinh dưỡng và thiếu máu.
- Người có bệnh lý về gan và thận: Kim loại nặng tích tụ trực tiếp tại nhu mô thận và tế bào gan, đẩy nhanh quá trình suy thận mãn tính hoặc hoại tử tế bào gan.
- Người có tiền sử thiếu máu hoặc bệnh lý tiêu hóa: Nguy cơ nhiễm độc kim loại làm trầm trọng thêm tình trạng suy tủy xương và kích ứng viêm loét đường ruột.
Ứng xử an toàn và khuyến nghị sử dụng thực tế
Để bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình, người dân cần thay đổi nhận thức về việc sử dụng các loài cây thủy sinh hoang dại:
- Tuyệt đối không thu hái bèo cái tự nhiên: Không lấy bèo cái từ ao tù, mương máng, sông ngòi gần khu công nghiệp, làng nghề, bãi rác hay cạnh các cánh đồng lúa có sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật để làm thuốc uống.
- Không tự ý truyền tai các bài thuốc truyền miệng: Mọi vấn đề da liễu hay nhu cầu thanh nhiệt cơ thể cần được thăm khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa thay vì tự chữa bằng các loại cây cỏ trôi nổi.
- Tận dụng bèo cái đúng mục đích: Khoa học đã khẳng định bèo cái có giá trị rất lớn trong việc xử lý nước thải công nghiệp và lọc sạch kim loại nặng ở các thủy vực ô nhiễm [1], [3], [2]. Hãy để loài thực vật này thực hiện đúng vai trò làm sạch sinh thái môi trường, thay vì đưa vào cơ thể con người.
- Hỏi ý kiến bác sĩ: Nếu đang gặp các vấn đề sức khỏe hoặc muốn sử dụng bất kỳ thảo dược nào, hãy tham khảo ý kiến của bác sĩ y học cổ truyền được cấp phép để đảm bảo dược liệu có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh.
Tự nhiên ban tặng nhiều loài thực vật có giá trị, nhưng mỗi loài lại mang một đặc tính sinh học riêng biệt. Bèo cái là một "chiến binh" xuất sắc giúp hút sạch kim loại nặng để thanh lọc dòng nước bẩn, nhưng chính điều đó lại biến nó thành mối hiểm họa khôn lường cho sức khỏe nếu con người tùy tiện sắc uống.


