Cây phượng vĩ (tên khoa học: Delonix regia) gắn liền với khung cảnh học trò và đường phố nhiệt đới Việt Nam. Trong kinh nghiệm dân gian lưu truyền tại một số địa phương và quốc gia, lá cùng các bộ phận của loài cây này từng được dùng làm bài thuốc giảm đau nhức, hạ sốt và chữa sốt rét. Điều này khiến nhiều người băn khoăn: liệu lá phượng vĩ có thực sự tiêu diệt được ký sinh trùng sốt rét hay chỉ là kinh nghiệm truyền miệng chưa được kiểm chứng?

Để trả lời thẳng thắn: Cho đến nay, các dữ liệu khoa học thực nghiệm chỉ ghi nhận việc dân gian sử dụng lá phượng vĩ để hỗ trợ kháng khuẩn, trị sốt rét [1] hoặc hỗ trợ các bệnh lý như viêm khớp, đái tháo đường, sốt rét [2]. Tuy nhiên, các tài liệu nghiên cứu hiện có chưa đưa ra thử nghiệm in vitro (ống nghiệm) hay thử nghiệm lâm sàng cụ thể chứng minh dịch chiết lá phượng vĩ trực tiếp ức chế hoặc tiêu diệt ký sinh trùng Plasmodium gây sốt rét. Do đó, người dân tuyệt đối không tự ý dùng lá phượng vĩ để chữa bệnh sốt rét thay cho thuốc đặc trị của y tế.

Nguồn gốc lời đồn và thực tế ghi nhận dân gian

Phượng vĩ là cây thân gỗ thuộc họ Đậu (Fabaceae hoặc Caesalpiniaceae), phân bố rộng rãi tại Ấn Độ, Việt Nam, Đài Loan và nhiều vùng nhiệt đới khác [1], [2]. Trong y học cổ truyền ở một số quốc gia, nước sắc từ lá cây phượng vĩ được người dân dùng nhằm giải quyết các rối loạn dạ dày, đau cơ thể, đau nhức khớp do thấp khớp, thậm chí cả bệnh viêm phổi hay sốt rét [1], [2].

Chính những ghi chép về mặt dân tộc học (folkloric medicine) này đã khiến nhiều người tin rằng lá phượng vĩ là một bài thuốc tự nhiên chữa sốt rét hiệu quả. Người ta thường nghĩ những thảo dược hạ được cơn sốt hay giảm nhức mỏi mình mẩy đồng nghĩa với việc chữa khỏi nguyên nhân gây bệnh sốt rét. Tuy nhiên, giữa việc làm thuyên giảm phản ứng viêm tạm thời và việc tiêu diệt ký sinh trùng gây bệnh là hai cơ chế hoàn toàn khác nhau.

Dược chất trong phượng vĩ tác động ra sao?

Khi đi sâu vào phân tích hóa thực vật, các nhà khoa học phát hiện các bộ phận của cây phượng vĩ chứa nhiều nhóm hoạt chất sinh học tự nhiên phong phú. Dịch chiết từ lá phượng vĩ chứa sterol, triterpenoid, các hợp chất phenolic và flavonoid [1]. Những thành phần này cũng xuất hiện phổ biến trong hoa, vỏ thân và hạt của cây [2].

Cơ chế sinh học được ghi nhận rõ nhất ở lá phượng vĩ là khả năng ức chế phản ứng viêm [1]. Viêm là chuỗi biến đổi bệnh lý gắn liền với phản ứng tế bào và mạch máu cục bộ [1]. Các hoạt chất flavonoid và phenolic có khả năng điều hòa một số phản ứng viêm trong mô sống [1]. Ngoài ra, trong mô hình nghiên cứu bảo vệ tim mạch, dịch chiết lá phượng vĩ cho thấy khả năng làm tăng mức nitric oxide (NO) và giảm yếu tố hoại tử khối u alpha (TNF-alpha) [2].

Việc giảm nhẹ các dấu hiệu viêm có thể giúp cơ thể cảm thấy dễ chịu hơn khi bị sốt hoặc đau mỏi [1], [2]. Dù vậy, những hoạt chất này không thể thay thế cho các hoạt chất chống ký sinh trùng đặc hiệu.

Nghiên cứu khoa học nói gì về lá phượng vĩ?

Các bằng chứng khoa học hiện nay về cây phượng vĩ chủ yếu tập trung vào hoạt tính kháng viêm, hạ đường huyết, chống loét dạ dày hoặc hoạt tính sinh học trên một số loài ký sinh trùng khác, chứ chưa chứng minh tác dụng diệt ký sinh trùng sốt rét trên người.

Một nghiên cứu công bố năm 2011 đã đánh giá hoạt tính kháng viêm của lá phượng vĩ (Delonix regia) [1]. Bột lá được chiết xuất bằng ethanol qua bình chiết Soxhlet [1]. Nghiên cứu tiến hành trên chuột cống trắng thông qua hai mô hình: gây phù bàn chân bằng carrageenan và gây u hạt bằng viên bông [1]. Thử nghiệm dùng 3 mức liều uống: 100, 200 và 400 mg/kg thể trọng [1]. Kết quả cho thấy ở liều 400 mg/kg, dịch chiết lá thể hiện tác dụng kháng viêm rõ rệt ở cả hai mô hình so với nhóm đối chứng, tương đương với thuốc đối chứng indomethacin liều 10 mg/kg [1]. Nghiên cứu này ghi nhận tài liệu dân gian có nhắc đến lá phượng vĩ dùng trị sốt rét, nhưng thử nghiệm của họ chỉ tập trung kiểm tra tác dụng kháng viêm [1].

Năm 2016, một nghiên cứu khác khảo sát tác dụng bảo vệ tim mạch của dịch chiết lá phượng vĩ (DRLE) trên chuột [2]. Kết quả ghi nhận ở mức liều 400 mg/kg/ngày, DRLE giúp giảm tỷ lệ tử vong ở mô hình chuột bị phì đại và tổn thương tim do isoproterenol (ISO) [2]. Nghiên cứu cũng ghi nhận nồng độ creatine phosphokinase, LDH, GOT, TNF-alpha giảm xuống, trong khi mức nitric oxide tăng lên [2]. Thử nghiệm trên động mạch vành của lợn in vitro cho thấy DRLE gây giãn mạch phụ thuộc liều [2]. Nghiên cứu nhắc lại thông tin dân gian dùng lá trị sốt rét, viêm khớp hay táo bón, nhưng mục tiêu chứng minh lại nằm ở hệ tim mạch [2].

Năm 2011, nghiên cứu tại Bangladesh đánh giá tác dụng dung nạp glucose của dịch chiết methanol từ lá phượng vĩ trên chuột bị tăng đường huyết do nạp glucose [3]. Dịch chiết được cho uống 1 giờ trước khi nạp glucose, sau đó đo đường huyết sau 2 giờ bằng phương pháp glucose oxidase [3]. Kết quả cho thấy dịch chiết làm giảm đường huyết ở mọi liều thử nghiệm, mạnh nhất ở liều 400 mg/kg, tương đương với thuốc chuẩn glibenclamide (10 mg/kg) [3].

Một nghiên cứu năm 2020 trên phần trên mặt đất của cây phượng vĩ xác nhận dịch chiết methanol chứa hàm lượng phenolic tổng số (831,6 ± 0,002 mg/g GAE) và flavonoid (361,4 ± 0,002 mg/g QE) cao [4]. Phân tích HPLC xác định sự có mặt của quercetin, axit gallic, axit caffeic, axit cinnamic, axit ferulic và axit p-coumaric [4]. Trên chuột cống đái tháo đường do streptozotocin-nicotinamide (55-110 mg/kg), dịch chiết giúp hạ đường huyết và cải thiện các chỉ số chống oxy hóa (SOD, CAT, H2O2), hiệu quả mạnh nhất ở liều 500 mg/kg [4].

Về tác dụng trên ký sinh trùng hay côn trùng, các nghiên cứu tập trung vào các sinh vật khác. Năm 2022, một thử nghiệm in vitro đánh giá dịch chiết hoa phượng vĩ và lá cây Lippia graveolens trên trứng và ấu trùng giun tròn ký sinh Haemonchus contortus ở gia súc nhai lại nhỏ [5]. Phân đoạn hữu cơ (EtOAc-F) của hoa phượng vĩ ức chế nở trứng hoàn toàn ở nồng độ 1,56 mg/mL và tiêu diệt trên 90% ấu trùng ở nồng độ 25 mg/mL [5]. Ngoài ra, một nghiên cứu năm 2025 cho thấy dịch chiết methanol và ete dầu hỏa từ hạt phượng vĩ có độc tính diệt sâu ăn lá bông Spodoptera littoralis tuổi thứ 5 với tỷ lệ chết 100% và 98% (LC50 lần lượt là 0,887 và 1,795 g/L sau 24 giờ) [6].

Như vậy, các nghiên cứu sinh học mới chỉ xác nhận khả năng kháng viêm của lá [1], hạ đường huyết [3], [4], bảo vệ tim [2], diệt ấu trùng giun tròn từ hoa [5] và diệt sâu bướm từ hạt [6], hoàn toàn chưa có thử nghiệm thực chứng diệt ký sinh trùng sốt rét.

Giới hạn của bằng chứng và nguy cơ hiểu lầm

Hiểu lầm phổ biến nhất là đánh đồng kinh nghiệm dân gian với sự thật khoa học đã được kiểm chứng. Khi đọc thấy các tài liệu khoa học trích dẫn "dân gian dùng lá phượng vĩ trị sốt rét" [1], [2], nhiều người tưởng nhầm rằng y học hiện đại đã công nhận công dụng này.

Thực tế, các trích dẫn đó chỉ là phần khảo sát lịch sử sử dụng thảo dược bản địa nhằm tìm kiếm hướng đi mới [1]. Để khẳng định một dược liệu có thể trị sốt rét, các nhà khoa học phải thực hiện nuôi cấy ký sinh trùng Plasmodium trong phòng thí nghiệm (in vitro), cho tiếp xúc với dịch chiết lá để đo lường khả năng tiêu diệt hoặc ức chế phát triển, sau đó thử nghiệm trên động vật và người. Hiện tại, dữ liệu dạng này từ lá phượng vĩ vẫn chưa có đầy đủ hoặc chưa được công nhận để áp dụng lâm sàng.

Bên cạnh đó, bệnh sốt rét là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm do muỗi truyền ký sinh trùng vào máu. Nếu tự ý uống nước lá thay vì dùng phác đồ y tế chuẩn, bệnh nhân có thể đối mặt với biến chứng sốt rét ác tính đe dọa tính mạng.

Ai nên thận trọng?

Mặc dù thử nghiệm độc tính cấp trên chuột cho thấy dịch chiết lá phượng vĩ có độ an toàn cao ở mức liều nghiên cứu [2], việc tự ý sử dụng lá phượng vĩ thu hái tự nhiên vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro:

  • Người nghi ngờ hoặc đang mắc bệnh sốt rét: Cần đến ngay cơ sở y tế để xét nghiệm máu và dùng thuốc đặc trị theo chỉ định. Tuyệt đối không dùng lá phượng vĩ để tự chữa trị tại nhà.
  • Người có bệnh nền đái tháo đường: Do lá phượng vĩ có tác dụng hạ đường huyết [3], [4], việc tự ý dùng có thể gây hạ đường huyết quá mức hoặc tương tác khó lường với thuốc đang uống.
  • Người bệnh dạ dày hoặc tim mạch: Mặc dù vỏ thân cho thấy tiềm năng chống loét [7] và lá giúp giãn mạch [2], đây mới là thử nghiệm trên động vật, chưa thể xem là giải pháp điều trị thay thế thuốc kê đơn.
  • Phụ nữ có thai, cho con bú và trẻ em: Hiện chưa có nghiên cứu kiểm tra tính an toàn trên các đối tượng này; do đó nhóm đối tượng nhạy cảm này không nên sử dụng.

Khi gặp bất kỳ triệu chứng sốt cao, rét run bất thường nào, người bệnh cần được thăm khám y khoa thay vì dựa vào các bài thuốc truyền miệng chưa được khoa học kiểm nghiệm.

Áp dụng thực tế và lời khuyên cân bằng

Khai thác dược liệu tự nhiên là hướng đi đầy hứa hẹn, nhưng cần được đặt trên nền tảng khoa học vững chắc. Lá phượng vĩ chứa nhiều hợp chất polyphenol, flavonoid có lợi ích chống oxy hóa và kháng viêm trong các mô hình thí nghiệm [1], [4], [2]. Tuy nhiên, từ mô hình chuột hay ống nghiệm cho đến bài thuốc an toàn trên cơ thể người là một khoảng cách rất lớn.

Người dân chỉ nên nhìn nhận phượng vĩ như một loài cây cảnh quan quen thuộc có tiềm năng hóa thực vật đang được các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu. Không tự ý thu hái lá phượng vĩ, hãm trà hoặc sắc uống để chữa sốt rét hay bất kỳ bệnh lý mãn tính nào. Đối với sức khỏe bản thân, việc tuân thủ các hướng dẫn phòng chống muỗi đốt và tiếp cận y tế kịp thời vẫn là biện pháp an toàn, hiệu quả hàng đầu.