Cây sừng dê trong đời sống và mối nguy ngộ độc

Cây sừng dê là loài thực vật hoang dại quen thuộc ở nhiều vùng rừng núi nước ta, thường được người dân nhận biết qua hình dáng quả đặc trưng tách đôi như cặp sừng. Trong dân gian, loài hoa vàng (Strophanthus divaricatus) hay một số dạng hoa đỏ cùng chi thường gây tò mò về công dụng chữa bệnh cũng như độc tính chết người. Nhiều người băn khoăn liệu độc tính giữa các loài này khác nhau ra sao và việc tự ý dùng hạt có thể dẫn tới hậu quả nguy hiểm thế nào.

Hạt của các loài thuộc chi sừng dê (Strophanthus) đều chứa hàm lượng glycoside tim hoạt tính cực mạnh, có khả năng tác động trực tiếp lên cơ tim và gây ngừng tim nhanh chóng [1, 7]. Dù là sừng dê hoa vàng (Strophanthus divaricatus) hay các loài cùng chi như sừng dê hoa đỏ, hạt của chúng đều có độc tính cực cao và không thể phân biệt ranh giới an toàn bằng mắt thường [1, 3]. Việc tự ý thu hái hay chế biến hạt sừng dê tiềm ẩn rủi ro tử vong do rối loạn nhịp tim cấp tính [1, 4].

Cơ chế tác động của glycoside tim lên cơ thể

Glycoside tim từ chi sừng dê là các hợp chất tự nhiên có khả năng ức chế bơm Na+/K+-ATPase trên màng tế bào cơ tim [4, 5]. Hoạt động ức chế này làm thay đổi nồng độ ion nội bào, từ đó gia tăng lực co bóp, trương lực và tính kích thích của sợi cơ tim [4, 5]. Trong y học, các hoạt chất này từng được khai thác để làm tăng lực bóp tim ở người suy tim và điều hòa nhịp tim [4, 6].

Về mặt cấu trúc hóa học, glycoside tim phân lập từ chi sừng dê (Strophanthus) sở hữu vòng steroid liên kết A/B và C/D dạng cis, trong khi vòng B/C liên kết trans [1]. Cách ghép nối vòng này tạo cho khung phân tử aglycone một hình chữ "U" đặc trưng [1]. Ngoài ra, phần đường gắn vào vị trí 3beta-OH của khung steroid qua một liên kết đơn, mang lại hoạt tính sinh học đặc hiệu nhưng cũng đồng thời tạo nên độc tính tim mạch vô cùng nguy hiểm khi vào cơ thể với lượng không kiểm soát [1].

Nghiên cứu khoa học về thành phần hạt và thân sừng dê

Các nghiên cứu hiện đại đã đi sâu vào thành phần hóa học của chi sừng dê nhằm làm rõ tính chất phức tạp của dược liệu này. Năm 2022, một nghiên cứu đã tiến hành đánh giá hệ thống thành phần trong hạt của 11 loài thuộc chi Strophanthus bằng kỹ thuật sắc ký lỏng siêu cao áp ghép khối phổ (UHPLC-MS và MS/MS) [2]. Kết quả phát hiện hai saponin chính cùng khoảng 90 hợp chất chưa từng được báo cáo trước đó, được xác định sơ bộ là saponin [2]. Riêng hạt của loài Strophanthus gratus được dùng để phân lập các triterpenoid chủ đạo là bidesmoside của axit echinocystic và axit oleanolic [2].

Nghiên cứu này ước tính tổng hàm lượng saponin trong mẫu hạt lên tới 1% [2]. Các tác giả cảnh báo rằng lượng saponin này có thể làm thay đổi độ hấp thu qua đường tiêu hóa của các phân tử glycoside tim vốn khó hấp thu, từ đó làm tăng mạnh độc tính khó lường của các chế phẩm từ hạt sừng dê [2]. Đáng chú ý, các chuyên gia nhấn mạnh chưa thể xác định tính tương đương sinh học giữa dung dịch ouabain nguyên chất với các dạng cồn thuốc hay cao chiết tự chế từ hạt sừng dê [2].

Đối với loài sừng dê hoa vàng (Strophanthus divaricatus), các công trình nghiên cứu tập trung bóc tách các hợp chất steroid từ thân và cành lá. Năm 2023, nghiên cứu phân lập hóa thực vật trên thân cây sừng dê hoa vàng (Strophanthus divaricatus) đã tìm thấy 4 glycoside tim mới và 1 dẫn xuất pregnane C21 mới, bên cạnh 11 steroid đã biết [3]. Khi thử nghiệm trên các dòng tế bào ung thư ở người gồm K562, SGC-7901, A549 và HeLa, các hợp chất từ 1 đến 13 và 15 đều thể hiện độc tính tế bào từ mạnh đến rất rõ rệt [3]. Giá trị nồng độ ức chế tối thiểu 50% (IC50) lần lượt ghi nhận ở mức 0,02-16,08 muM với K562; 0,04-23,13 muM với SGC-7901; 0,06-22,31 muM với A549 và 0,06-15,13 muM với tế bào HeLa [3].

Tiếp đó vào năm 2024, một nghiên cứu khác trên cành và lá cây sừng dê hoa vàng (Strophanthus divaricatus) đã cô lập thành công 2 glycoside 8-hydroxysteroid hiếm cùng 5 chất chuyển hóa hạ nguồn có khung pentacyclic 6/6/5/5/5 chưa từng ghi nhận, kèm theo 7 chất tương tự đã biết [4]. Thử nghiệm cho thấy nhóm hợp chất này ức chế tế bào ung thư phổi và gan thông qua việc kìm hãm phản ứng tổn thương DNA (DDR) và con đường tín hiệu mTOR/S6K [4]. Tuy nhiên, các độc tính tế bào này cũng phản ánh hoạt lực sinh học rất mạnh và tiềm ẩn nguy cơ phá hủy tế bào lành tính nếu dùng bừa bãi [2, 3].

Lịch sử độc chất và so sánh nguy cơ giữa các loài sừng dê

Lịch sử y học ghi nhận độc tính chết người của chi sừng dê từ rất sớm, khi người bản địa tại châu Phi dùng nhựa và hạt cây này để tẩm tên độc săn bắn và chiến đấu [5]. Hạt của chi Strophanthus được xếp vào nhóm nguồn cung cấp cardenolide khởi phát nhanh [2]. Trong đó, hoạt chất strophanthidin có nguồn gốc từ hạt loài Strophanthus kombe cũng đã được chứng minh có tác động mạnh mẽ lên hoạt động của Na+/K+-ATPase, trực tiếp làm tăng tính chịu kích thích và khả năng co bóp của cơ tim [6].

Nhiều người tìm cách so sánh độc tính giữa hạt sừng dê hoa vàng (S. divaricatus) và các loài hoa đỏ cùng chi nhằm tìm kiếm loài "ít độc hơn" để làm thuốc. Tuy nhiên, bằng chứng khoa học cho thấy toàn bộ các loài thuộc chi Strophanthus đều chứa glycoside tim có cấu trúc steroid bẻ cong chữ U mang độc tính tim mạch cực kỳ cao [1, 2]. Sự hiện diện đồng thời của saponin trong hạt với tỷ lệ lên đến 1% càng thúc đẩy quá trình hấp thu glycoside vào máu, khiến mức độ phát tán độc tố trong cơ thể diễn ra nhanh và khó đoán [2]. Vì vậy, việc cho rằng một loài hoa nào đó trong chi sừng dê là lành tính hơn để sử dụng tại nhà là suy đoán hoàn toàn sai lầm và nguy hiểm [1, 7].

Hiểu lầm thường gặp về việc tự dùng hạt sừng dê

Sai lầm phổ biến nhất của người dân là tự ý ngâm rượu hạt sừng dê hoặc sắc nước uống để bồi bổ tim mạch hay trị bệnh khớp theo các bài thuốc truyền miệng. Thực tế, glycoside tim là nhóm hoạt chất có khoảng điều trị cực kỳ hẹp, ranh giới giữa liều có tác dụng sinh học và liều gây ngộ độc tim chết người là vô cùng mong manh [7]. Tại châu Âu, việc người dân tự chế các bài thuốc từ hạt chi sừng dê sau khi các loại thuốc đăng ký chính thức chứa ouabain rút khỏi thị trường đã gióng lên hồi chuông cảnh báo lớn về nguy cơ ngộ độc [2].

Một ngộ nhận khác là cồn thuốc hoặc dịch chiết thô tự nấu từ hạt có thể tương đương với thuốc tim mạch chuẩn hóa. Nghiên cứu khẳng định sinh khả dụng và độ an toàn của các dạng chiết xuất tự làm hoàn toàn không tương đương với hoạt chất tinh khiết chuẩn độ trong y khoa [2]. Khi tự nấu hoặc ngâm rượu, nồng độ hoạt chất không thể kiểm soát, lượng saponin đi kèm có thể khiến lượng độc chất ngấm vào tuần hoàn nhanh hơn dự kiến, dễ dẫn tới rung thất và ngưng tim [1, 4].

Ai cần tuyệt đối tránh xa dược liệu sừng dê?

Hạt và các bộ phận của cây sừng dê, bao gồm cả sừng dê hoa vàng (Strophanthus divaricatus) và các loài cùng chi, tuyệt đối không được dùng cho bất kỳ đối tượng nào dưới dạng tự chữa bệnh tại nhà [1, 7]. Mức độ độc tính cao của các glycoside tim khiến việc tiếp xúc bừa bãi trở thành mối hiểm họa tính mạng đối với mọi cá nhân [1, 3].

Đặc biệt, những người mắc bệnh lý tim mạch, người có tiền sử rối loạn nhịp, người suy giảm chức năng gan thận, người cao tuổi, phụ nữ mang thai và trẻ em là những nhóm dễ tổn thương nhất nếu vô tình ăn phải hoặc dùng nhầm chế phẩm từ sừng dê [1, 6]. Độc tính tác động trực tiếp lên bơm ion cơ tim có thể gây trụy tuần hoàn chỉ sau thời gian ngắn tiếp xúc [4, 6].

Cảnh báo an toàn và xử trí khi tiếp xúc

Cây sừng dê hoa vàng và các loài sừng dê hoa đỏ chỉ có giá trị trong nghiên cứu hóa thực vật học và chiết xuất dược liệu có kiểm soát nghiêm ngặt bởi ngành dược [1, 3]. Người dân khi đi rừng hoặc canh tác tuyệt đối không hái hạt, quả hay bẻ cành cây sừng dê để nhai thử hoặc ngâm rượu [1, 7]. Nhựa tiết ra từ cành, thân cây cũng chứa các hợp chất steroid có độc tính tế bào cao, không nên để dính vào mắt hay vết thương hở [3, 8].

Trong trường hợp nghi ngờ ai đó uống nhầm cồn thuốc, ăn nhầm hạt sừng dê hoặc có biểu hiện ngộ độc như buồn nôn, nôn mửa, hoa mắt, nhịp tim đập chậm bất thường hoặc loạn nhịp, cần lập tức đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất. Cần mang theo mẫu cây hoặc hạt đã sử dụng để nhân viên y tế nhận dạng độc chất và có phác đồ hồi sức cấp cứu kịp thời.

Mọi bộ phận của cây sừng dê hoa vàng và các loài cùng chi đều chứa độc tố tim mạch cực mạnh, không thể tự ý sử dụng làm thuốc [1, 3]. Việc phân biệt màu sắc hoa đỏ hay vàng không giúp giảm bớt mối nguy hiểm tiềm tàng từ hạt [2]. Người dân cần giữ thái độ thận trọng, tuân thủ hướng dẫn y khoa chính thống và tuyệt đối không mạo hiểm tính mạng với các bài thuốc truyền miệng từ loại cây này [1, 6].