Lời đồn về bột tắc kè khô

Nhiều người tìm mua bột tắc kè sấy khô ngâm rượu hoặc bồi bổ [1]. Dân gian đồn dược liệu này chứa hàm lượng protein đặc thù, axit béo quý, khoáng chất dồi dào chữa bách bệnh [1].

Sự thật khoa học ra sao? Hiện không có dữ liệu phân tích thành phần dinh dưỡng của bột tắc kè sấy khô trong các nghiên cứu được cung cấp. Nghiên cứu sinh học chỉ tập trung vào cấu trúc protein thị giác và chuyển hóa chất béo ở thằn lằn sống [1, 7].

Bằng chứng dinh dưỡng: Chưa có số liệu cụ thể

Nhiều người kỳ vọng vào bảng định lượng axit amin hay tỷ lệ lipid chi tiết. Dữ liệu khoa học hiện có trong tài liệu nghiên cứu không phân tích mẫu thực phẩm hay dược liệu từ bột tắc kè khô.

Nghiên cứu về thằn lằn chỉ khảo sát đặc tính sinh học tế bào, cấu trúc chuỗi axit amin của các protein chức năng hoặc động lực học chuyển hóa năng lượng [1, 5, 7]. Không có cơ sở xác định nồng độ khoáng chất, tổng lượng đạm hay axit béo của chế phẩm sấy khô dùng làm thuốc.

Nghiên cứu thị giác ở tắc kè Tokay

Năm 1992, nghiên cứu phát hiện tắc kè Tokay (Gekko gekko) có hai sắc tố thị giác là P467 và P521 [2]. Trình tự axit amin của P521 tương đồng cao với iodopsin ở gà, còn P467 tương đồng với sắc tố tế bào nón nhạy sáng xanh lục của gà và rhodopsin [2].

Năm 1995, các nhà khoa học tách chiết hai sắc tố gecko green và gecko blue từ võng mạc tắc kè Tokay bằng sắc ký cột [3]. Quang phổ nhiệt độ thấp xác định các chất trung gian quang hóa, cho thấy độ bền nhiệt của chất trung gian meta II thấp hơn metarhodopsin II [3].

Năm 2001, nghiên cứu phân lập cDNA mã hóa sắc tố thị giác nhạy tia cực tím (UV) của tắc kè Tokay [4]. Bản sao này có 57% và 59% mức độ tương đồng chuỗi lần lượt với gen sắc tố RH2 và MWS của tắc kè, và tương đồng 87% với gen nhạy UV của tắc kè hoa Mỹ (Anolis carolinensis) [4]. Tốc độ thay thế axit amin ở ba sắc tố tắc kè cao hơn hẳn so với tắc kè hoa [4].

Năm 2007, nghiên cứu tái tạo sắc tố RH2 của tắc kè Tokay và tắc kè hoa Mỹ với 11-cis-retinal cho thấy cực đại hấp thụ lần lượt là 467 nm và 496 nm [5]. Phân tích chimeras chỉ ra khác biệt quang phổ do thay đổi axit amin ở các chuỗi xoắn xuyên màng, bao gồm các đột biến như S49A, S49F, L52M, D83N, M86T, T97A [5].

Gen protein thần kinh ở thằn lằn

Năm 2013, nghiên cứu trên loài Gekko japonicus đã nhân bản gen Enolase2 (NSE) [6]. Trình tự cDNA dài 2178 bp mã hóa chuỗi polypeptide gồm 434 axit amin, có trọng lượng phân tử dự đoán 47,3 kDa [6]. Trình tự axit amin tương đồng 83%-98% với protein NSE của các loài như gà, chuột, người, gần nhất với Gallus gallus [6].

Năm 2009, nhóm nghiên cứu phân lập gen Brp44l từ não và tủy sống Gekko japonicus [7]. Gen mã hóa protein gồm 107 axit amin, nặng khoảng 12,27 kDa, tương đồng 85-89% với các loài khác [7]. Biểu hiện gen này tăng cao nhất sau 1 tuần cắt cụt đuôi, liên quan đến tổn thương và tái tạo thần kinh [7].

Cả hai công trình đều tập trung vào cấu trúc di truyền và protein nội sinh. Kết quả không phản ánh giá trị dinh dưỡng của bột tắc kè sấy khô qua đường tiêu hóa.

Tắc kè chuyển hóa chất béo như thế nào?

Năm 2023, nghiên cứu kiểm tra việc sử dụng axit béo ở thằn lằn Hemidactylus turcicus và chuột chù Suncus etruscus bằng phương pháp đánh dấu đồng vị 13C [1]. Kết quả cho thấy thằn lằn oxy hóa axit linoleic (không bão hòa đa) và axit oleic (không bão hòa đơn) mạnh hơn nhiều so với axit palmitic (bão hòa) [1].

Lượng axit palmitic bị đào thải qua phân cao hơn hẳn so với hai axit béo còn lại [1]. Tốc độ tiêu hóa và oxy hóa axit béo của thằn lằn đạt đỉnh vào ban đêm [1]. Thí nghiệm phản ánh cách thằn lằn sống tiêu thụ thức ăn, không đo lường hàm lượng lipid hay axit béo chứa trong bột thịt tắc kè khô.

Hiểu lầm thường gặp và giới hạn bằng chứng

Nhiều người nhầm lẫn giữa cấu trúc chuỗi axit amin của protein trong cơ thể bò sát với giá trị dinh dưỡng hấp thụ [1, 5]. Nghiên cứu chỉ ra sự sắp xếp axit amin ở thụ thể ánh sáng hay enzym nội sinh, không đại diện cho thành phần đạm trong thực phẩm [2, 5].

Các nghiên cứu sinh học tế bào và mô hình động vật không cung cấp số liệu phân tích định lượng bột khô [1, 7]. Trích đoạn về chuột đột biến GCGKO hoàn toàn là thí nghiệm trên chuột thiếu hụt peptide proglucagon, không liên quan đến thành phần dược liệu tắc kè [8]. Do đó, mọi lời quảng cáo bột tắc kè chứa hàm lượng lipid hay protein vượt trội đều thiếu bằng chứng xác thực.

Ai nên thận trọng?

Chưa có nghiên cứu an toàn dinh dưỡng trên phụ nữ có thai, người cho con bú, trẻ em hoặc người có bệnh lý nền. Bột tắc kè khô tự chế biến hoặc trôi nổi tiềm ẩn nguy cơ nhiễm khuẩn, nấm mốc hoặc tồn dư độc chất.

Người suy gan, suy thận không tự ý dùng các chế phẩm rượu ngâm hay bột tán từ động vật hoang dã. Bệnh nhân đang điều trị bệnh mạn tính cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng bất kỳ sản phẩm nào từ tắc kè.

Áp dụng thực tế và lời khuyên cân bằng

Không có cơ sở khoa học để khuyến nghị liều lượng hay thời điểm dùng bột tắc kè sấy khô nhằm mục đích bổ sung protein hay khoáng chất. Người tiêu dùng không nên dựa vào các lời truyền miệng để tự ý tẩm bổ.

Để bổ sung đạm và chất béo tốt, nên chọn các nguồn thực phẩm đã được phân tích rõ ràng như thịt gia cầm, trứng, cá và các loại hạt. Duy trì lối sống lành mạnh, ăn uống cân bằng và tham vấn chuyên gia dinh dưỡng khi cần phục hồi sức khỏe.