Nhiều người truyền tai nhau dùng tỏi đỏ để bổ máu, chữa hoa mắt, chóng mặt. Dược liệu này còn gọi sâm đại hành, tên khoa học Eleutherine bulbosa. Củ có màu đỏ thẫm khiến dân gian tin giúp tạo máu [1], [2].
Khoa học hiện đại chưa có bằng chứng xác nhận tỏi đỏ kích thích tạo hồng cầu hay chữa thiếu máu ở người. Các nghiên cứu hiện tại chỉ ghi nhận hoạt tính chống oxy hóa, kháng khuẩn và độc tế bào ung thư [3], [1], [4], [2], [5]. Người bệnh không dùng dược liệu này thay thuốc điều trị thiếu máu.
Bối cảnh và nguồn gốc tên gọi tỏi đỏ
Tỏi đỏ thuộc họ Diên vĩ (Iridaceae), phân bố ở Nam Mỹ, châu Phi và Đông Nam Á [1], [2]. Tại Indonesia, củ gọi Bawang Dayak hoặc Bawang Tiwai, dùng trong y học dân gian bộ tộc Dayak [2]. Người dân dùng trị đái tháo đường, cao huyết áp, ung thư vú, rối loạn kinh nguyệt và vết thương bầm dập [3], [1], [2].
Màu đỏ của dịch chiết củ khiến nhiều người suy diễn thành tác dụng bổ máu. Tại Trung Quốc và Đông Nam Á, dân gian dùng củ chữa thổ huyết, kiết lỵ, kinh nguyệt không đều [1]. Dù vậy, quan niệm "ăn gì bổ nấy" chưa đồng nghĩa với công năng tạo máu trên lâm sàng.
Thành phần hóa học đã được định danh
Nghiên cứu hóa thực vật cho thấy củ tỏi đỏ chứa nhiều nhóm hoạt chất sinh học [2]. Cụ thể gồm dẫn xuất phenol, flavonoid, naphthalene, anthraquinone và naphthoquinone [2]. Năm 2010, phân tích hóa học phân lập bốn hợp chất polyketide mới gồm (R)-4-hydroxyeleutherin, eleuthone, eleutherinol-8-O-beta-D-glucoside và isoeleuthoside C [6].
Các chất này kết hợp cùng eleutherin, isoeleutherin, eleutherinol, eleutherol, eleuthoside B, eleuthoside C, hongconin và elecanacin đã biết trước đó [6]. Nhóm chất tạo nên các đặc tính sinh học đang được phòng thí nghiệm kiểm tra [4], [5], [6].
Hoạt tính chống oxy hóa từ củ tỏi đỏ
Nghiên cứu công bố năm 2019 định lượng hàm lượng phenol và flavonoid trong củ, lá, hoa tỏi đỏ [1]. Phép đo Folin-Ciocalteu và borohydride/chloroquinone xác định củ chứa lượng phenol và flavonoid cao hơn lá và hoa [1]. Đánh giá khả năng dọn gốc tự do peroxide và chống oxy hóa tế bào cho kết quả tương tự [1].
Hàm lượng flavonoid hoặc tổng phenol càng cao, khả năng chống oxy hóa in vitro càng mạnh [1]. Dịch chiết củ tỏi đỏ tiềm năng làm nguồn chống oxy hóa tự nhiên [1]. Tuy vậy, chống oxy hóa là phản ứng bảo vệ tế bào, không đồng nghĩa bổ sung sắt hay kích thích tủy xương tạo máu.
Dữ liệu về đông máu trên mô hình động vật
Một nghiên cứu công bố năm 1975 khảo sát eleutherin và eleutherol tách từ củ tỏi đỏ thu thập tại rừng Amazon [4]. Thử nghiệm dược lý trên chuột cống (in vivo) ghi nhận: eleutherin có tác dụng yếu và thoáng qua làm giảm thời gian prothrombin [4]. Hoạt chất này cũng có tác dụng kháng khuẩn yếu trên vi khuẩn Bacillus subtilis in vitro [4].
Thời gian prothrombin giảm phản ánh tốc độ đông máu nhanh hơn, liên quan quá trình cầm máu [4]. Tác động này hoàn toàn khác biệt cơ chế sinh hồng cầu hay nâng chỉ số huyết sắc tố. Chưa có nghiên cứu in vivo nào trên động vật chứng minh củ tỏi đỏ làm tăng số lượng hồng cầu.
Khảo sát tác dụng trên tế bào ung thư
Nghiên cứu năm 2022 tối ưu hóa chiết xuất củ tỏi đỏ bằng cồn, thử nghiệm trên tế bào ung thư nguyên bào võng mạc người (WERI-Rb-1) [3]. Dịch chiết ức chế tăng sinh dòng tế bào này với giá trị IC50 đạt 15,7 mug/mL [3]. Tế bào ung thư teo màng, cô đặc chất nhiễm sắc và hình thành thể tự chết theo liều dùng [3]. Phân tích biểu hiện mRNA xác nhận cơ chế chết tế bào theo lập trình qua tăng biểu hiện Bax, Bad, p53 và Caspase 3 [3].
Năm 2023, nghiên cứu khác đánh giá phân đoạn chloroform từ củ tỏi đỏ trên tế bào ung thư phổi A549 ở mô hình nuôi cấy 2D và 3D [5]. Sắc ký khí khối phổ (GC-MS) phát hiện 20 hợp chất, nổi bật là eleutherin và isoeleutherin [5]. Phân đoạn này ức chế tạo cụm tế bào, giảm kích thước khối cầu 3D, giảm tỷ lệ tế bào gốc ung thư CD44, chặn chu kỳ tế bào ở pha S và giảm biểu hiện gene SOX2, MYC [5].
Dữ liệu cho thấy tiềm năng nghiên cứu thuốc hướng ung bướu [3], [5]. Tuy nhiên, thử nghiệm hoàn toàn ở quy mô tế bào ống nghiệm, chưa áp dụng lâm sàng điều trị bệnh cho người.
Cơ chế tạo máu thực thụ diễn ra thế nào?
Sinh hồng cầu trong cơ thể người đòi hỏi hormon điều hòa và nguyên liệu tạo huyết sắc tố. Hormon erythropoietin (EPO) đóng vai trò then chốt kích thích tủy xương sản xuất hồng cầu trưởng thành [7]. EPO tái tổ hợp dùng lâm sàng hơn 15 năm qua để trị thiếu máu do suy thận mạn, HIV, phẫu thuật và bệnh hiểm nghèo [7]. EPO cũng có hoạt tính chống chết tế bào theo lập trình giúp bảo vệ mô [7].
Bên cạnh EPO, tủy xương cần sắt, axit folic và vitamin B12 để tổng hợp hemoglobin. Củ tỏi đỏ chưa từng được chứng minh chứa hoạt chất kích thích thụ thể EPO hoặc cung cấp sắt sinh khả dụng cao. Mẹo dân gian gán ghép màu đỏ của dược liệu với khả năng tạo máu thiếu cơ sở khoa học.
Ai cần thận trọng khi sử dụng tỏi đỏ?
Tỏi đỏ có hoạt tính ức chế tế bào và tác động nhẹ đến thời gian đông máu [3], [4]. Các nhóm sau cần thận trọng:
- Người được chẩn đoán thiếu máu: Cần khám chuyên khoa để tìm nguyên nhân cụ thể (thiếu sắt, xuất huyết, tan máu, tủy xương). Tự ý uống tỏi đỏ làm chậm trễ thời gian bổ sung thuốc đặc hiệu [7].
- Người đang dùng thuốc chống đông hoặc chuẩn bị phẫu thuật: Hoạt chất trong tỏi đỏ gây biến đổi thời gian đông máu trên động vật [4]. Nguy cơ tương tác thuốc chưa rõ.
- Phụ nữ mang thai và cho con bú: Chưa có nghiên cứu an toàn trên thai nhi và trẻ bú mẹ. Dược liệu từng dùng theo kinh nghiệm liên quan vấn đề sinh sản ở nữ giới [3], [2].
- Người có bệnh gan, thận mạn tính: Khả năng chuyển hóa các dẫn xuất quinone phức tạp trong tỏi đỏ chưa có hướng dẫn an toàn [2], [6].
Cách dùng hợp lý dựa trên thực tế
Tỏi đỏ chỉ nên xem như vị thảo mộc dân gian hỗ trợ thanh nhiệt, chứa chất chống oxy hóa tự nhiên [1], [2]. Khi dùng củ tươi hoặc phơi khô nấu nước uống, chỉ dùng lượng vừa phải theo hướng dẫn truyền thống. Luôn hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng trước khi dùng đều đặn.
Nếu xuất hiện triệu chứng mệt mỏi mạn tính, da xanh xao, niêm mạc nhợt, hoa mắt, cần xét nghiệm công thức máu tại cơ sở y tế. Không dùng dược liệu chưa kiểm chứng để thay thế đơn thuốc bổ máu, truyền máu hay phác đồ của bác sĩ.
Khoa học ghi nhận tỏi đỏ giàu chất chống oxy hóa, kháng khuẩn và độc tế bào ung thư thực nghiệm [3], [1], [4], [5]. Lời đồn tỏi đỏ "bổ máu" hoàn toàn không có bằng chứng lâm sàng ủng hộ. Sử dụng thảo dược cần tỉnh táo, kết hợp chế độ ăn đa dạng và tuân thủ y học chứng cứ.


