Thắc mắc phổ biến về trẩu và trẩu xoan
Cây trẩu và trẩu xoan từ lâu đã rất quen thuộc ở nhiều vùng trung du, miền núi nước ta. Cả hai loài đều thuộc chi Vernicia trong họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) và được biết đến nhiều như những cây lấy hạt ép dầu công nghiệp hoặc làm cảnh quan [1]. Không ít người thắc mắc liệu hai loài cây này khác nhau thế nào về mặt hóa học, đặc biệt là hàm lượng acid béo đặc thù như acid eleostearic hay độc tính tự nhiên của chúng.
Theo các dữ liệu phân tích hóa thực vật hiện có, các nhà khoa học đã phân lập được nhiều nhóm chất chuyên biệt như neolignan, lignan và terpenoid từ các bộ phận khác nhau của hai cây này [2], [3]. Tuy nhiên, các tài liệu nghiên cứu hiện tại chưa cung cấp số liệu phân tích định lượng trực tiếp về acid eleostearic cũng như so sánh mức độ độc tính cụ thể giữa trẩu và trẩu xoan. Dưới đây là những đặc điểm hóa thực vật và hoạt tính sinh học đã được giới khoa học chứng minh.
Cơ chế tác động sinh học của các hợp chất từ cây trẩu
Cả hai loài trẩu đều chứa những nhóm hóa chất thực vật có hoạt tính sinh học rõ rệt trên hệ thống tế bào miễn dịch thần kinh [2], [3]. Khi các tế bào vi mô đệm (microglia) trong não bị kích thích quá mức bởi độc tố hoặc phản ứng viêm, chúng sẽ giải phóng một lượng lớn oxit nitric (NO) và các cytokine gây viêm, từ đó dẫn tới tổn thương tế bào thần kinh.
Các hợp chất tự nhiên chiết xuất từ hạt trẩu xoan hay rễ trẩu có khả năng can thiệp trực tiếp vào phản ứng này [2], [3]. Bằng cách ức chế sản sinh NO và phong tỏa tín hiệu truyền phát các chất gây viêm như TNF-alpha hay IL-1beta, những phân tử tự nhiên này giúp giảm thiểu phản ứng viêm thần kinh trong điều kiện phòng thí nghiệm [2].
Nghiên cứu thành phần hóa học từ vỏ hạt trẩu xoan (Vernicia fordii)
Nghiên cứu công bố năm 2020 đã tập trung tìm hiểu các thành phần hóa sinh có hoạt tính từ vỏ hạt của cây trẩu xoan (Vernicia fordii) [2]. Nhóm nghiên cứu đã phân lập và xác định cấu trúc của 8 hợp chất mới phát hiện lần đầu cùng 15 hợp chất đã biết thông qua phân tích phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) và phổ lưỡng sắc tròn điện tử (ECD) [2].
Các chất này bao gồm 6 neolignan, 2 monolignan, 3 sesquineolignan, 3 dineolignan, 8 phenylpropanoid và 1 steroid [2]. Khi đánh giá tác động ức chế viêm thần kinh trên tế bào BV2 được kích hoạt bằng LPS, các hợp chất như isodiverniciasin A, diverniciasin B, diverniciasin C, isoprincepin, princepin, 3,3'-bisdemethylpinoresinol, (+)-7-epi-sesamin-dicatechol, isoamericanin A, americanin B, 7S,8R-americanin D, 4-hydroxyl cinnamic aldehyde, 3-hydroxyl-4-methoxyl cinnamic aldehyde và 24R-6beta-hydroxy-24-ethylcholest-4-en-3-one đều cho thấy tác dụng ức chế rõ rệt lên việc sản sinh oxit nitric (NO) [2].
Đặc biệt, bốn hợp chất gồm isoprincepin, princepin, americanin B và 4-hydroxyl cinnamic aldehyde còn làm giảm đáng kể sự biểu hiện quá mức của các cytokine gây viêm như TNF-alpha, IL-1beta và IL-6 ở tế bào vi mô đệm hoạt hóa quá mức [2]. Các nhà khoa học gợi ý rằng các thành phần từ vỏ hạt trẩu xoan có thể mở ra tiềm năng nghiên cứu thuốc điều trị thoái hóa thần kinh trong tương lai [2].
Nghiên cứu hóa thực vật từ rễ cây trẩu (Vernicia montana)
Đối với loài trẩu thông thường (Vernicia montana Lour.), một nghiên cứu công bố năm 2022 đã tiến hành phân tích các hoạt chất có trong rễ cây [3]. Dựa trên định hướng hoạt tính sinh học đối với tế bào vi mô đệm, các tác giả đã tách chiết phân đoạn hoạt động từ rễ loài này [3].
Kết quả phân tích phổ toàn diện đã phân lập và xác định được 7 hợp chất terpenoid và lignan chưa từng được mô tả trước đó, cùng với 31 hợp chất đã biết [3]. Toàn bộ các chất phân lập được đều được kiểm tra khả năng ức chế tạo NO trên dòng tế bào BV-2 bị kích thích bởi lipopolysaccharide [3]. Kết hợp với các dữ liệu trước đó về chi Vernicia, nghiên cứu đã làm sáng tỏ cơ sở vật chất tự nhiên mang hoạt tính sinh học từ rễ cây trẩu trong phòng thí nghiệm [3].
Khác biệt di truyền giữa trẩu và trẩu xoan
Bên cạnh các chất chiết xuất, hai loài này còn có những sai khác đáng kể ở mức độ phân tử và bộ gen [4], [1]. Nghiên cứu năm 2024 về bộ gen lục lạp hoàn chỉnh cho thấy bộ gen lục lạp của trẩu (V. montana) có kích thước 163.518 bp, trong khi trẩu xoan (V. fordii) dài 161.495 bp [1]. Độ đa dạng nucleotide trung bình giữa hai loài là 0,0122 và tỷ lệ Ka/Ks trung bình là 0,3483, khẳng định chúng là hai loài họ hàng thân thiết [1].
Mặc dù có liên kết họ hàng gần, trẩu xoan (V. fordii) lại rất dễ bị nhiễm bệnh héo rũ do nấm Fusarium oxysporum gây ra tổn thất lớn, trong khi loài trẩu (V. montana) lại có khả năng kháng bệnh nấm này rất mạnh mẽ [4], [5]. Năm 2016, phân tích so sánh hệ phiên mã rễ sau nhiễm nấm đã phát hiện trẩu xoan có 258.430 bản phiên mã không trùng lặp, còn trẩu có 245.240 bản, cùng với 44.310 cặp gen trực hệ [4]. Đáng chú ý, có 17 gen trung tâm, tiêu biểu là protein kinase D6PK, LRR-RLK và yếu tố phiên mã EREBP biểu hiện khác nhau rõ rệt giữa hai loài [4].
Nghiên cứu sâu hơn vào năm 2021 và 2024 làm rõ thêm: gen VmD6PKL2 biểu hiện chuyên biệt ở xylem rễ bên của cây trẩu giúp ngăn chặn sợi nấm lây lan hướng lên thân, trong khi ở trẩu xoan nấm xâm nhập sâu vào xylem rễ [5]. Ngoài ra, trẩu sở hữu 149 gen NBS-LRR (so với 90 gen ở trẩu xoan), trong đó gen kháng bệnh Vm019719 ở trẩu được kích hoạt biểu hiện tăng khi gặp nấm, còn gen tương ứng ở trẩu xoan (Vf11G0978) lại bị ức chế do khiếm khuyết vùng khởi động [6]. Về các yếu tố phiên mã AP2/ERF, trẩu có 81 gen còn trẩu xoan có 75 gen [7].
Lợi ích, giới hạn bằng chứng và hiểu lầm thường gặp
Nhiều người quan niệm rằng các loài cây cùng một chi, hình thức tương đồng thì đặc tính hóa học và ứng dụng y học sẽ giống nhau. Thực tế, thành phần hóa học phân lập được phụ thuộc vào từng bộ phận của cây, ví dụ vỏ hạt trẩu xoan tập trung neolignan [2], còn rễ trẩu chứa hỗn hợp terpenoid và lignan [3].
Điểm giới hạn mấu chốt là tất cả các dữ liệu hoạt tính chống viêm nêu trên mới chỉ được thực hiện trên các dòng tế bào nuôi cấy trong ống nghiệm (in vitro) [2], [3]. Chưa có thử nghiệm lâm sàng nào trên cơ thể người đối với các chất này. Độc giả không nên lầm tưởng rằng các bộ phận của cây trẩu có thể dùng làm thuốc chữa bệnh tại nhà.
Đồng thời, đối với mối quan tâm về hàm lượng acid eleostearic hay độc tính của hạt, các tài liệu nghiên cứu cụ thể trong báo cáo này hoàn toàn chưa đề cập hay cung cấp phép phân tích hóa học trực tiếp để so sánh giữa hai loài. Cần thận trọng, tránh suy đoán số liệu khi chưa có kiểm chứng khoa học xác đáng.
Ai nên thận trọng với cây trẩu và trẩu xoan?
Các cây thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) nói chung đều cần được tiếp cận thận trọng vì các bộ phận hạt, vỏ hoặc nhựa cây có thể tiềm ẩn những thành phần gây kích ứng, ngộ độc nếu tiếp xúc hoặc nuốt phải bừa bãi.
Người dân, đặc biệt là phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ và người có bệnh nền, tuyệt đối không tự ý sắc uống, chế biến hay thử nghiệm các bộ phận từ cây trẩu hoặc trẩu xoan theo lời mách bảo dân gian. Nếu tiếp xúc với mủ hoặc tinh dầu từ các loài cây này mà xuất hiện triệu chứng bất thường, cần tới ngay cơ sở y tế để được kiểm tra. Khi có nhu cầu dùng dược liệu chữa bệnh, luôn tham khảo ý kiến của bác sĩ hoặc thầy thuốc có chuyên môn.
Khuyến nghị và áp dụng thực tế
Hiện nay, trẩu và trẩu xoan chủ yếu có giá trị ứng dụng trong lâm nghiệp, tạo cảnh quan và sản xuất dầu công nghiệp hoặc làm cơ sở nghiên cứu chọn giống kháng bệnh [4], [1]. Các hợp chất neolignan và lignan được phân lập từ hai loài cây này vẫn đang dừng ở bước nghiên cứu định hướng hoạt chất tiềm năng trong phòng thí nghiệm [2], [3].
Để đảm bảo an toàn cho sức khỏe, người dân chỉ nên khai thác cây trẩu cho mục đích kinh tế kỹ thuật đã được cơ quan chức năng hướng dẫn. Không tự ý dùng các sản phẩm hạt hoặc rễ trẩu làm thực phẩm chức năng hay thuốc điều trị khi chưa có chứng minh lâm sàng và cấp phép y tế.


