Nước dừa là thức uống giải khát tự nhiên quen thuộc, được nhiều người ưa chuộng nhờ vị ngọt thanh và tính mát. Tuy nhiên, người đang dùng thuốc điều trị tăng huyết áp thường băn khoăn liệu uống nước dừa hàng ngày có an toàn hay gây tương tác bất lợi.

Uống nước dừa khi đang dùng thuốc hạ huyết áp có thể tiềm ẩn rủi ro sức khỏe, đặc biệt là nguy cơ tăng kali máu nguy hiểm và hiện tượng cộng gộp tác dụng hạ áp. Tương tác này đáng lo ngại nhất ở nhóm người dùng thuốc tác động lên hệ renin-angiotensin-aldosterone như thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin.

Vì sao nước dừa tương tác với thuốc huyết áp?

Nước dừa chứa hàm lượng khoáng chất dồi dào, bao gồm canxi, magie và đặc biệt là kali [1]. Khoảng 8 ounce nước dừa (tương đương gần 240 ml) chứa tới 600 mg kali [2]. Với người bình thường không mắc bệnh thận mạn, nhu cầu bổ sung kali qua chế độ ăn được khuyến nghị là 4,7 g mỗi ngày [2].

Một số nhóm thuốc hạ huyết áp làm thay đổi cân bằng điện giải theo hướng giữ lại kali trong cơ thể [3]. Các thuốc phổ biến ảnh hưởng đến nồng độ kali huyết thanh gồm thuốc chẹn beta, thuốc lợi tiểu giữ kali, thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn thụ thể angiotensin [3]. Việc kết hợp thuốc lợi tiểu giữ kali với các nguồn bổ sung kali đã được ghi nhận là một tương tác nguy hại [4]. Khi dùng đồng thời nước dừa giàu kali với các thuốc giảm đào thải kali, nguy cơ tích tụ khoáng chất này trong máu tăng lên đáng kể.

Bên cạnh đó, nghiên cứu trên động vật cho thấy nước dừa thể hiện hoạt tính lợi tiểu tự nhiên [5]. Ở mô hình chuột được nạp muối, nước dừa làm tăng thể tích nước tiểu, tăng đào thải natri và clorua [5]. Cơ chế này liên quan đến việc ức chế hệ renin-angiotensin-aldosterone thông qua giảm nồng độ hormone kháng niệu, angiotensin II, aldosterone và tăng peptide natri niệu tâm nhĩ [5]. Ngoài ra, nước dừa còn làm giảm biểu hiện mRNA và nồng độ protein của các kênh dẫn nước aquaporin 1, aquaporin 2 và aquaporin 3 [5]. Khi kết hợp tác động lợi tiểu và hạ áp tự nhiên này với thuốc điều trị, huyết áp có thể bị kéo xuống quá thấp.

Nghiên cứu nói gì về rủi ro tăng kali và hạ áp?

Các bằng chứng lâm sàng và báo cáo y khoa đã ghi nhận những trường hợp nguy hiểm bắt nguồn từ thói quen uống nước dừa khi đang dùng thuốc tim mạch.

Năm 2018, một báo cáo lâm sàng mô tả trường hợp bệnh nhân bị liệt mềm hướng tâm cấp tính do tăng kali máu nặng sau khi uống nước dừa king coconut [2]. Bệnh nhân này có tiền sử dùng thuốc chẹn thụ thể angiotensin và spironolactone kéo dài, đồng thời phát hiện bệnh thận mạn thứ phát do đái tháo đường [2]. Nước dừa là tác nhân khởi phát gây tăng kali máu nghiêm trọng, dẫn đến yếu cơ tiến triển nhanh tương tự hội chứng Guillain-Barre và rối loạn nhịp tim tiền tử vong [2]. Tình trạng yếu chi chỉ hồi phục sau khi bệnh nhân được xử trí ổn định kali máu và rối loạn nhịp [2]. Trường hợp này cho thấy việc nạp lượng lớn kali qua nước dừa có thể dẫn đến loạn nhịp tim gây tử vong trên nền thuốc giữ kali [2].

Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên song song năm 2017 đánh giá tác động của nước dừa trên 32 phụ nữ từ 25 đến 44 tuổi bị tiền tăng huyết áp [6]. Nhóm can thiệp uống 300 ml nước dừa non 2 lần mỗi ngày trong 14 ngày liên tục, nhóm chứng uống cùng lượng nước lọc [6]. Ở thời điểm ban đầu, nồng độ kali huyết tương trung bình là 3,71 ± 0,41 mmol/L, trong đó 22,58% đối tượng bị hạ kali máu [6]. Sau 14 ngày, mức kali huyết tương giữa hai nhóm không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê (p=0,247), dù cả hai nhóm đều có xu hướng tăng nhẹ kali máu (p=0,166) [6]. Nghiên cứu kết luận can thiệp 300 ml nước dừa 2 lần mỗi ngày trong 14 ngày chưa đủ để làm tăng nồng độ kali máu ở nhóm người tiền tăng huyết áp vốn có mức kali máu thấp [6].

Về mặt di truyền, hiệu quả của thuốc hạ áp còn phụ thuộc vào cơ địa từng người. Một nghiên cứu năm 2013 trên 370 bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát tại Trung Quốc cho thấy đa hình gen kênh kali KCNH2 (1956, C>T) có liên quan đến mức độ đáp ứng thuốc chẹn kênh canxi (azelnidipine, nitrendipine) và thuốc chẹn alpha,beta-adrenergic [7]. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân dùng thuốc ức chế men chuyển imidapril hoặc thuốc chẹn thụ thể candesartan và irbesartan, không ghi nhận sự khác biệt đáng kể về đáp ứng hạ áp theo các kiểu gen này [7].

Lợi ích khác và giới hạn của bằng chứng

Nước dừa không hoàn toàn có hại. Ngoài kali, nước dừa chứa nhiều thành phần hoạt tính sinh học như L-arginine, vitamin C, canxi và magie [1]. Một nghiên cứu năm 2008 trên chuột ăn chế độ giàu chất béo và cholesterol kéo dài 45 ngày cho thấy bổ sung nước dừa (4 ml/100 g thể trọng) mang lại hiệu quả hạ lipid máu tương đương thuốc lovastatin (0,1/100 g thức ăn) [1]. Nước dừa làm giảm cholesterol toàn phần, VLDL+LDL cholesterol, triglyceride và tăng HDL cholesterol trong huyết thanh [1]. Tác động này đi kèm sự suy giảm hoạt tính các enzyme tạo mỡ ở gan, tăng hoạt tính HMG-CoA reductase, lipoprotein lipase và tăng bài tiết axit mật qua phân [1].

Tuy vậy, phần lớn các dữ liệu về tác dụng ức chế hệ renin-angiotensin-aldosterone hay hạ lipid máu hiện mới chỉ dừng lại ở thử nghiệm trên động vật [1] [5]. Thử nghiệm lâm sàng ở người tiền tăng huyết áp chỉ theo dõi nhóm nữ giới trẻ tuổi khỏe mạnh trong 14 ngày, chưa phản ánh đầy đủ tác động trên người cao tuổi có bệnh nền tim mạch dùng thuốc dài hạn [6]. Do đó, người bệnh không thể tự ý coi nước dừa là phương pháp thay thế thuốc kê đơn.

Những hiểu lầm thường gặp

Nhiều người cho rằng nước dừa là thức uống tự nhiên thuần khiết nên hoàn toàn vô hại và có thể uống thay nước lọc hàng ngày. Đây là quan niệm sai lầm, bởi nồng độ kali 600 mg trong mỗi 240 ml là con số rất đáng kể đối với hệ bài tiết [2]. Uống dồn dập nhiều trái dừa trong ngày có thể làm nồng độ khoáng chất này trong máu tăng vọt bất ngờ.

Hiểu lầm khác là nước dừa có thể dùng để điều trị tăng huyết áp thay cho thuốc tây y. Dù nghiên cứu trên động vật cho thấy nước dừa ức chế các thành phần của hệ renin-angiotensin-aldosterone và gây bài niệu [5], tác động này không đủ ổn định và chưa được chuẩn hóa liều lượng để kiểm soát huyết áp an toàn ở người. Tự ý bỏ thuốc để uống nước dừa có thể khiến huyết áp dao động nguy hiểm.

Ai nên đặc biệt thận trọng?

Người đang sử dụng thuốc ức chế men chuyển (như imidapril) hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin (như candesartan, irbesartan) cần hết sức cẩn trọng khi uống nước dừa [7] [3]. Nhóm thuốc này làm giảm bài tiết kali qua thận, dễ dẫn đến hiện tượng tích tụ điện giải khi nạp thêm thức uống giàu kali [2] [3].

Người đang phối hợp thuốc chẹn thụ thể với thuốc lợi tiểu giữ kali (như spironolactone) tuyệt đối không nên uống nhiều nước dừa [2]. Tương tác giữa chế độ ăn giàu kali và thuốc giữ kali có thể gây tăng kali máu cấp tính, dẫn đến liệt cơ và loạn nhịp tim đe dọa tính mạng [2].

Bệnh nhân tăng huyết áp kèm tổn thương thận, bệnh thận mạn tính hoặc bệnh thận do đái tháo đường là nhóm có nguy cơ cao nhất [2]. Chức năng lọc của thận suy giảm khiến khả năng đào thải kali dư thừa bị hạn chế nghiêm trọng [2]. Hiện nay, các hướng dẫn theo dõi kali máu khi dùng thuốc hạ áp còn mang tính tình huống và phụ thuộc vào kinh nghiệm thực hành lâm sàng của bác sĩ điều trị [3].

Cách dùng nước dừa an toàn trong đời sống

Người đang dùng thuốc hạ huyết áp không nhất thiết phải kiêng nước dừa tuyệt đối nếu chức năng thận còn tốt. Tuy nhiên, chỉ nên uống lượng vừa phải, không uống dồn dập nhiều quả trong một ngày hoặc uống liên tục nhiều ngày.

Thời điểm uống nên cách xa giờ uống thuốc hạ áp từ 2 đến 3 tiếng để tránh hiện tượng cộng hưởng tác dụng hạ áp và dao động điện giải đột ngột. Khi uống, nên chọn nước dừa tươi nguyên chất, không pha thêm muối hay đường nhằm kiểm soát tốt lượng natri và calo nạp vào.

Nếu xuất hiện các dấu hiệu bất thường như mệt lả, chóng mặt, hoa mắt do tụt huyết áp, yếu cơ hai chân tăng dần hoặc cảm giác hồi hộp, đánh trống ngực, người bệnh cần ngừng uống ngay và đến cơ sở y tế kiểm tra điện giải đồ máu [2].

Nước dừa là thức uống bổ dưỡng nhưng cần được sử dụng thận trọng ở người đang dùng thuốc huyết áp giữ kali hoặc có bệnh thận kèm theo. Kiểm soát lượng dùng vừa phải và duy trì chế độ dinh dưỡng cân bằng là chìa khóa bảo vệ sức khỏe. Người bệnh nên tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị để được tư vấn mức tiêu thụ an toàn dựa trên tình trạng huyết áp và chức năng thận cụ thể.