Nhiều người có thói quen tự sắc hoặc hãm các loại thảo mộc uống hàng ngày để tăng cường sức khỏe tim mạch. Trong đó, hoa và các bộ phận của cây râm bụt thường được truyền tai như bài thuốc thanh nhiệt, hỗ trợ điều hòa huyết áp. Tuy nhiên, việc tự ý kết hợp thảo mộc này khi đang dùng thuốc điều trị huyết áp tiềm ẩn những nguy cơ bất lợi.

Hiện nay, dữ liệu khoa học ghi nhận râm bụt có hoạt tính hạ huyết áp nhưng các nghiên cứu về tương tác dược lực học trực tiếp giữa dược liệu này và thuốc tim mạch hay thuốc lợi tiểu vẫn còn rất hạn chế [1]. Người bệnh tuyệt đối không nên tự ý kết hợp râm bụt cùng thuốc kê đơn mà không tham khảo chỉ định từ bác sĩ chuyên khoa [1].

Cơ chế tác động và những hoạt chất sinh học đáng chú ý

Cây râm bụt (tên khoa học: Hibiscus rosa-sinensis) chứa kho hợp chất thực vật phong phú phân bố ở mọi bộ phận [1]. Các phân tích hóa thực vật chỉ ra rằng toàn bộ cây chứa flavonoid, tannin, terpenoid, anthocyanin, saponin, alkaloid cyclopeptide cùng nhiều vitamin [1].

Ở phần hoa, các nhà nghiên cứu tìm thấy riboflavin, thiamine, apigenidine, axit oxalic, axit citric, quercetin, niacin, pelargonidine và axit ascorbic [1]. Bộ rễ chứa glycoside, tannin, phytosterol, dầu béo, chất béo, flavonoid, saponin, chất gôm và chất nhầy [1]. Lá cây có alkaloid, glycoside, đường khử, chất béo, nhựa cây và sterol [1]. Thân cây chứa beta-sitosterol, teraxeryl acetate, axit sterculic vòng và axit malvalic [1].

Nhờ nguồn hợp chất đa dạng này, râm bụt thể hiện nhiều hoạt tính sinh học [1]. Đáng chú ý, các nghiên cứu tổng quan ghi nhận chiết xuất râm bụt có tác dụng hạ huyết áp, chống oxy hóa, hạ mỡ máu và kháng viêm [1]. Khi một thảo dược có khả năng hạ huyết áp được dùng chung với thuốc hạ áp tổng hợp hoặc thuốc lợi tiểu, nguy cơ cộng gộp tác dụng có thể xảy ra, dẫn đến hạ huyết áp quá mức hoặc rối loạn chuyển hóa [1].

Bằng chứng khoa học về râm bụt trên tim mạch và chuyển hóa

Tổng quan hệ thống công bố năm 2023 đã tổng hợp các nghiên cứu từ ScienceDirect, Scopus, PubMed và Google Scholar về Hibiscus rosa-sinensis [1]. Nghiên cứu này ghi nhận loài cây này có nhiều ứng dụng dược lý, bao gồm hoạt tính kháng khuẩn, chống oxy hóa, hạ đường huyết, chống viêm, hạ huyết áp, hạ lipid máu và an thần [1]. Dù vậy, dữ liệu ghi nhận hoạt tính hạ huyết áp chủ yếu đến từ các khảo sát dược lý ban đầu, chưa có thử nghiệm lâm sàng chuyên sâu phân tích tương tác khi phối hợp cùng thuốc lợi tiểu hay thuốc tim mạch hiện đại [1].

Bên cạnh đó, tác động chuyển hóa của râm bụt đã được kiểm chứng trên nhiều mô hình động vật [2], [3]. Một nghiên cứu năm 2022 thực hiện trên chuột cống bị béo phì do chế độ ăn nhiều chất béo và đường đã đánh giá tác dụng của trà thảo mộc hoa râm bụt [3]. Trà râm bụt có hàm lượng polyphenol tổng số đạt 5,82 mg/g tính theo GAE và hàm lượng flavonoid tổng số đạt 9,17 mg/g tính theo CE [3]. Chuột được cho uống hai mức liều gồm 250 mg/kg và 500 mg/kg thể trọng [3].

Kết quả cho thấy ở liều cao (500 mg/kg), trà râm bụt giúp giảm chỉ số khối cơ thể (BMI) của chuột từ mức 0,79 g/cm² xuống 0,50 g/cm² [3]. Nghiên cứu cũng ghi nhận sự sụt giảm đáng kể trọng lượng thận và gan phì đại, hạ chỉ số xơ vữa động mạch, đồng thời giảm nồng độ men gan AST, ALT, AP và creatinine huyết thanh (SC) [3]. Lượng cholesterol toàn phần (TC), triglyceride (TG), LDL và VLDL huyết thanh đều giảm rõ rệt, kèm theo sự cải thiện các chỉ số chống oxy hóa như MDA, SOD và GSH [3].

Ảnh hưởng đến chuyển hóa đường và lipid cũng được chứng minh trong thử nghiệm năm 2017 trên 6 nhóm chuột cống trắng Wistar (6 con/nhóm) bị đái tháo đường do alloxan (150 mg/kg), kéo dài 4 tuần [2]. Chiết xuất cồn-nước từ hoa râm bụt được dùng ở các liều 50, 100 và 200 mg/kg thể trọng, so sánh với nhóm chứng dùng glibenclamide (5 mg/kg) [2]. Kết quả cho thấy chiết xuất hoa râm bụt giúp kiểm soát đường huyết tương đương glibenclamide và sulphonylurea, đồng thời cho hiệu quả hạ mỡ máu và chống oxy hóa vượt trội hơn glibenclamide [2]. Sau 28 ngày, chiết xuất giúp tăng kích thước, cải thiện tình trạng hoại tử, teo nhỏ và hỗ trợ tái tạo tiểu đảo tụy [2].

Năm 2016, một nghiên cứu khác khảo sát phân đoạn ethyl acetate từ cánh hoa râm bụt trên chuột bị tiểu đường do streptozotocin ở liều 25 mg/kg, so sánh với metformin [4]. Chiết xuất này giúp hạ đường huyết từ 398,56 ± 35,78 mg/dL xuống 156,89 ± 14,45 mg/dL và giảm HbA1c từ 12,89 ± 1,89% xuống 6,12 ± 0,49%, đồng thời bình thường hóa men gan và điều hòa thụ thể kiểm soát đường huyết tương đương metformin [4]. Tác động bảo vệ tế bào beta đảo tụy chống lại quá trình chết rụng và viêm nhiễm do nồng độ glucose cao (25 mM) cũng được chứng minh trên dòng tế bào RIN-m5F thông qua điều hòa NF-kappaB và các gen chức năng như foxO-1, Ucn-3, Pdx-1, MafA và Nkx6.1 [5].

Ngoài ra, chiết xuất râm bụt còn thể hiện tác động lên hệ thần kinh trung ương [6], [7]. Nghiên cứu năm 2009 trên chuột cho thấy chiết xuất rễ râm bụt qua đường uống (liều 100, 200 và 300 mg/kg) làm giảm chứng loạn vận động miệng-mặt do reserpine (1 mg/kg tiêm màng bụng trong 3 ngày cách nhật), cải thiện cử động nhai rỗng và thè lưỡi, đồng thời giảm peroxy hóa lipid và phục hồi men SOD, catalase và GSH trong mô não [7]. Một nghiên cứu năm 2018 sử dụng hạt nano lipid rắn chứa chiết xuất râm bụt kích thước ~175 nm cho thấy khả năng rút ngắn thời gian bất động ở chuột nhắt trắng Swiss albino, đạt hiệu quả chống trầm cảm ở mức liều thấp hơn nhiều so với dịch chiết thô thông thường [6].

Lợi ích thực tế và giới hạn của bằng chứng hiện có

Các bằng chứng khoa học cho thấy râm bụt là một loài thực vật chứa nhiều hợp chất quý có tiềm năng chống oxy hóa, hỗ trợ điều hòa huyết áp, giảm mỡ máu và bảo vệ tế bào [1], [3]. Độc tính học bước đầu ghi nhận việc sử dụng chiết xuất thực vật này ở liều cao tương đối an toàn trên động vật [1].

Mặc dù vậy, hạn chế lớn nhất là chưa có nghiên cứu chuyên sâu về tương tác trên người đang dùng thuốc hạ huyết áp hoặc thuốc lợi tiểu [1]. Các dữ liệu sinh học hiện nay chủ yếu được thực hiện trên động vật thí nghiệm (chuột cống, chuột nhắt) hoặc tế bào cô lập trong ống nghiệm [2], [4], [5]. Cơ thể người có sự chuyển hóa, đào thải và phản ứng dược động học phức tạp hơn rất nhiều. Do đó, người bệnh không thể tự ý ngoại suy kết quả từ chuột sang người để tự chữa bệnh huyết áp bằng râm bụt [2], [1].

Hiểu lầm thường gặp khi dùng râm bụt cho bệnh tim mạch

Một hiểu lầm phổ biến là cho rằng thảo mộc tự nhiên luôn lành tính, có thể uống thay nước lọc hoặc kết hợp thoải mái với đơn thuốc tim mạch hàng ngày. Thực tế, râm bụt có hoạt tính hạ áp tự nhiên [1]. Nếu uống đồng thời với thuốc hạ áp, tác dụng cộng dồn dược lực học có thể khiến huyết áp hạ quá thấp, dẫn đến tình trạng hoa mắt, chóng mặt hoặc ngất xỉu.

Nhiều người cũng nhầm lẫn giữa công dụng của chiết xuất râm bụt (Hibiscus rosa-sinensis) và các loài dâm bụt khác như bụp giấm (Hibiscus sabdariffa). Không những thế, một số độc giả tin rằng thảo mộc có thể chữa khỏi dứt điểm bệnh cao huyết áp. Đây là quan niệm sai lầm, bởi tăng huyết áp là bệnh mạn tính cần được kiểm soát lâu dài bằng lối sống và chỉ định y khoa [1].

Những ai cần thận trọng khi sử dụng râm bụt?

  • Người đang điều trị tăng huyết áp bằng thuốc kê đơn: Do râm bụt có hoạt tính hạ huyết áp, việc tự ý dùng chung có nguy cơ gây tụt huyết áp đột ngột [1].
  • Người đang dùng thuốc lợi tiểu hoặc thuốc tim mạch khác: Tác động của râm bụt lên chức năng thận và tuần hoàn có thể làm thay đổi sự cân bằng dịch và điện giải [3].
  • Người bệnh đái tháo đường đang dùng thuốc hạ đường huyết: Các nghiên cứu trên chuột chứng minh râm bụt làm hạ đường huyết mạnh mẽ tương đương metformin hoặc glibenclamide, nên khi kết hợp có thể làm tăng nguy cơ hạ đường huyết quá mức [2], [4].
  • Người đang điều trị trầm cảm hoặc dùng thuốc an thần: Râm bụt có tác động điều hòa hệ thần kinh và monoamine, có thể tương tác với các thuốc tâm thần như SSRI, TCA hay MAOI [6], [7].
  • Phụ nữ mang thai và phụ nữ cho con bú: Đánh giá tổng quan ghi nhận râm bụt có hoạt tính chống thụ thai và ảnh hưởng đến hệ sinh sản, do đó nhóm đối tượng này cần tránh sử dụng [1].

Hướng dẫn áp dụng an toàn trong đời sống

Nếu bạn yêu thích hương vị trà hoa thảo mộc và muốn dùng râm bụt, chỉ nên sử dụng với lượng vừa phải dưới dạng thực phẩm giải khát thỉnh thoảng, không dùng để thay thế nước uống hàng ngày. Không tự ý sắc các bộ phận như rễ, vỏ cây hay cánh hoa với nồng độ đậm đặc để chữa bệnh khi chưa có sự hướng dẫn chuyên môn [1], [7].

Khi chế biến trà thảo mộc, có thể hãm hoa khô trong nước sôi tương tự cách làm trà thông thường để lấy các polyphenol và flavonoid hòa tan [3]. Luôn theo dõi các phản ứng của cơ thể khi thử dùng một loại thảo mộc mới. Nếu xuất hiện bất kỳ dấu hiệu mệt mỏi, choáng váng hay tụt huyết áp nào, cần ngừng sử dụng ngay lập tức.

Người có bệnh nền tim mạch, huyết áp hoặc tiểu đường cần thông báo rõ với bác sĩ điều trị về tất cả các loại trà thảo mộc mình dự định sử dụng. Bác sĩ sẽ cân nhắc nguy cơ tương tác thuốc và điều chỉnh phác đồ hoặc đưa ra lời khuyên an toàn nhất cho sức khỏe của bạn [1].

Kết luận

Chiết xuất râm bụt sở hữu nhiều tiềm năng sinh học như hạ huyết áp, kiểm soát mỡ máu và chống oxy hóa trên động vật thí nghiệm [1], [3]. Tuy nhiên, nguy cơ tương tác dược lực học khi dùng chung với thuốc hạ áp và thuốc lợi tiểu là hoàn toàn có thể xảy ra [1]. Để bảo vệ sức khỏe tim mạch, người bệnh hãy duy trì lối sống lành mạnh, tuân thủ đúng đơn thuốc của bác sĩ và không tự ý bổ sung các thảo mộc trị liệu.