Thiếu máu do thiếu sắt là vấn đề dinh dưỡng phổ biến, đặc biệt ở phụ nữ độ tuổi sinh sản và người tập luyện thể thao. Khi được chẩn đoán thiếu hụt, phản xạ quen thuộc của nhiều người là mua viên sắt uống đều đặn mỗi ngày, thậm chí chia nhỏ ngày uống hai đến ba lần để cơ thể nhanh chóng phục hồi. Tuy nhiên, không ít người gặp phải cảnh ngộ đầy bụng, táo bón, buồn nôn hoặc uống mãi mà chỉ số huyết sắc tố vẫn tăng rất chậm.

Nhiều bằng chứng y khoa hiện đại đã chỉ ra rằng uống sắt mỗi ngày chưa hẳn là giải pháp tối ưu cho đường tiêu hóa và khả năng hấp thu. Ngược lại, việc giãn cách liều uống cách ngày đang nổi lên như một giải pháp khoa học giúp tối ưu hóa lượng sắt đi vào cơ thể và giảm thiểu tác dụng phụ.

Hepcidin: Người gác cổng quyết định sự hấp thu sắt

Để hiểu vì sao việc uống dồn dập hàng ngày phản tác dụng, cần tìm hiểu về hepcidin. Đây là hormone điều hòa chuyển hóa sắt quan trọng do gan sản xuất. Khi lượng sắt trong huyết thanh tăng lên sau khi uống thuốc bổ sung, gan sẽ phản ứng bằng cách tiết hepcidin nhằm ngăn cơ thể hấp thụ quá mức lượng sắt tự do gây độc hại.

Khi nồng độ hepcidin trong máu tăng cao, nó sẽ khóa lại kênh vận chuyển sắt ở tế bào biểu mô ruột non. Do đó, lượng sắt tiếp theo đi vào đường tiêu hóa sẽ bị chặn đứng, không thể thẩm thấu qua thành ruột để đi vào hệ tuần hoàn. Lượng sắt không được hấp thu này sẽ đọng lại ở lòng ruột, gây kích ứng niêm mạc ruột, viêm nhiễm và làm mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột [1].

Các thử nghiệm đo đạc sinh học phát hiện liều sắt nguyên tố từ 60 mg trở lên ở phụ nữ thiếu sắt (hoặc từ 100 mg ở người thiếu máu thiếu sắt) sẽ kích hoạt sự gia tăng hepcidin tức thì trong máu [1]. Sự tăng vọt hepcidin này kéo dài suốt 24 giờ sau thời điểm dùng thuốc [1, 4]. Nếu tiếp tục uống viên sắt tiếp theo vào ngày kế tiếp, nồng độ hepcidin cao sẵn có sẽ ức chế quá trình hấp thu của chính viên sắt đó [2]. Hormone này thường chỉ giảm dần và trở về mức an toàn sau khoảng 48 giờ [1].

Các nghiên cứu so sánh phác đồ cách ngày và hằng ngày

Một nghiên cứu chéo công bố năm 2019 tiến hành trên 19 phụ nữ bị thiếu máu thiếu sắt (nồng độ hemoglobin trung vị 11,5 mg/dL; ferritin huyết thanh trung bình 10 mg/L) [2]. Nhóm đối tượng được dùng ngắt quãng sắt sulfat gắn đồng vị bền (57Fe, 58Fe, 54Fe) ở mức liều 100 mg hoặc 200 mg vào lúc 8 giờ sáng ở các ngày liên tiếp (ngày 2, ngày 3) và ngày cách nhật (ngày 5) [2].

Kết quả cho thấy ở cả hai mức liều, nồng độ hepcidin huyết thanh vào ngày 3 (sau khi uống ngày 2) tăng cao hơn đáng kể so với ngày 2 và ngày 5 (P<0,001) [2]. Tỷ lệ hấp thu sắt phân đoạn (FIA) vào ngày 2 và ngày 5 cao hơn từ 40% đến 50% so với ngày 3 (P<0,001) [2]. Tỷ lệ hấp thu giữa ngày 2 và ngày 5 không có sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê [2]. Điều này chứng minh liều sắt uống vào ngày kế tiếp bị cản trở hấp thu nghiêm trọng bởi hepcidin từ liều hôm trước [2].

Trước đó, một công trình công bố năm 2015 đo lường ảnh hưởng của liều lượng sắt đến hepcidin trên 54 phụ nữ trẻ không thiếu máu nhưng cạn kiệt sắt dự trữ (ferritin huyết tương dưới hoặc bằng 20 microg/L) [3]. Khi phụ nữ dùng liều từ 60 mg trở lên, sau 24 giờ hepcidin huyết thanh vẫn tăng cao (P<0,01) và tỷ lệ hấp thu phân đoạn của liều tiếp theo giảm từ 35% đến 45% (P<0,01) [3]. Nghiên cứu cũng nhận định việc tăng gấp 6 lần liều sắt (từ 40 mg lên 240 mg) thực chất chỉ làm lượng sắt tuyệt đối hấp thu tăng gấp 3 lần (từ 6,7 mg lên 18,1 mg), trong khi phần sắt tồn đọng tăng vọt tạo gánh nặng đường ruột [3].

Một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng năm 2017 tại Thụy Sĩ theo dõi 40 phụ nữ cạn sắt dự trữ (ferritin huyết thanh từ 25 microg/L trở xuống) [4]. Nhóm nghiên cứu so sánh việc dùng 60 mg sắt mỗi ngày trong 14 ngày liên tục với việc dùng 60 mg sắt cách ngày trong 28 ngày [2, 3]. Kết quả ghi nhận việc dùng 60 mg sắt cách ngày giúp gia tăng đáng kể cả tỷ lệ hấp thu phân đoạn lẫn lượng sắt tuyệt đối hấp thu vào cơ thể so với phác đồ uống liên tục [5]. Nghiên cứu tiếp nối dùng liều 200 mg sắt cách ngày cũng mang lại tổng lượng sắt hấp thu gấp đôi so với dùng liều 100 mg uống đều mỗi ngày [5].

Không chỉ trên phụ nữ, thử nghiệm lâm sàng năm 2025 thực hiện trên 40 trẻ em từ 6 tháng đến 10 tuổi bị thiếu máu thiếu sắt cũng ghi nhận ưu thế của việc giãn cách liều [6]. Nhóm trẻ uống sắt cách ngày có chỉ số hepcidin huyết thanh thấp hơn (P=0,01), tỷ lệ tăng hemoglobin sau 30 ngày tốt hơn đáng kể (P=0,002), và chỉ 20% trẻ gặp phản ứng phụ tiêu hóa (P=0,01) so với nhóm chia liều ngày hai lần [6].

Bên cạnh đó, một nghiên cứu can thiệp ngẫu nhiên năm 2020 trên 40 bệnh nhân thiếu máu thiếu sắt cho thấy sau 21 ngày điều trị, mức tăng hemoglobin trung bình ở nhóm dùng phác đồ cách ngày đạt 1,58 ± 0,53 gm/dL, cao hơn rõ rệt so với mức tăng 0,41 ± 0,25 gm/dL ở nhóm uống hàng ngày (P<0,05) [7]. Chỉ số hepcidin của nhóm cách ngày ở ngày thứ 2 hầu như không tăng so với ban đầu, giúp hồng cầu lưới tiếp nhận sắt thuận lợi ngay từ ngày thứ 2 [7].

Tác dụng phụ tiêu hóa và tính tuân thủ điều trị

Một trong những trở ngại lớn nhất khiến người bệnh tự ý bỏ dở việc uống sắt là triệu chứng cồn cào, buồn nôn, đau quặn bụng hoặc tiêu chảy, táo bón. Theo các đánh giá lâm sàng, lượng sắt dư thừa không hấp thu trong lòng ruột chính là thủ phạm kích thích niêm mạc ruột và gây rối loạn sinh học [1].

Ở nhóm vận động viên chạy bền có ferritin huyết thanh dưới 50 microg/L, cả hai chiến lược dùng sắt hàng ngày và cách ngày đều nâng mức ferritin lên khoảng 60% [5]. Thế nhưng, phác đồ bổ sung cách ngày ghi nhận mức độ khó chịu dạ dày - ruột thấp hơn đáng kể [5]. Tác dụng phụ giảm bớt giúp người dùng duy trì việc điều trị kiên trì và lâu dài, tránh tình trạng bỏ ngang thuốc [5].

Nghiên cứu trên trẻ nhỏ năm 2025 cũng cho thấy việc uống cách ngày chỉ gây tác dụng phụ tiêu hóa ở 4/20 bệnh nhi (chiếm 20%), thấp hơn hẳn nhóm uống dồn liều hai lần một ngày [6]. Thử nghiệm dùng liều đơn 60 mg sắt sulfat cách ngày năm 2020 cũng khẳng định phương pháp này dung nạp tốt hơn nhiều trên đường tiêu hóa [7].

Hiểu lầm thường gặp khi bổ sung sắt đường uống

Nhiều người lầm tưởng rằng muốn nhanh khỏi thiếu máu thì phải tăng liều lên thật cao và uống nhiều cữ trong ngày. Nghiên cứu thực nghiệm chứng minh rằng việc chia nhỏ liều trong ngày không hề mang lại lợi ích cộng dồn [4, 5]. Nghiên cứu năm 2015 đo lường tổng lượng sắt hấp thu từ 3 cữ uống 60 mg trong vòng 24 giờ (uống 2 buổi sáng và 1 buổi chiều) và nhận thấy kết quả không vượt trội hơn so với chỉ uống 2 cữ sáng [3].

Thêm vào đó, nhịp sinh học tự nhiên của cơ thể khiến nồng độ hepcidin trong huyết tương có xu hướng tự tăng lên vào buổi chiều và tối [1]. Một liều sắt uống vào buổi sáng sẽ cộng hưởng làm hepcidin buổi chiều tăng vọt lên cao hơn nữa [1]. Vì vậy, việc uống thêm một liều sắt vào buổi chiều hoặc buổi tối sau cữ sáng hoàn toàn không hiệu quả, làm lãng phí thuốc và gia tăng độc tính cho đường tiêu hóa [1].

Một ngộ nhận khác là tập luyện càng nặng thì càng phải uống bù sắt liên tục. Một nghiên cứu năm 2017 theo dõi phản ứng cơ thể sau ba ngày tập sức bền liên tiếp cho thấy việc bổ sung liều sắt vừa phải (24 mg) kết hợp với căng thẳng tập luyện cũng đủ làm hepcidin huyết thanh tăng vọt (P=0,025) [8]. Lượng sắt hấp thu hàng ngày từ thuốc vốn chỉ dao động từ 2,3% (khi uống cùng thức ăn) đến 8,5% (khi đói) [8]. Việc bổ sung liều cao thiếu tính toán khi cơ thể đang viêm cơ do tập luyện có thể kích hoạt quá trình oxy hóa khử và làm tổn thương hệ tiêu hóa [8].

Ai nên thận trọng khi uống sắt cách ngày?

Dù phác đồ cách ngày mang lại nhiều ưu điểm về tỷ lệ hấp thu, việc thay đổi lịch uống cần có sự đánh giá từ bác sĩ điều trị. Những bệnh nhân thiếu máu thiếu sắt mức độ nặng, người bị mất máu cấp tính hoặc phụ nữ mang thai ở những tháng cuối cần tích lũy dự trữ sắt cấp tốc có thể cần những chỉ định cá nhân hóa chặt chẽ hơn [1, 4]. Trong một số tình huống cần đẩy nhanh tốc độ phục hồi hemoglobin, bác sĩ có thể cân nhắc tăng gấp đôi liều mục tiêu hàng ngày nhưng vẫn cho uống cách ngày nhằm vừa tối ưu tổng lượng sắt hấp thu vừa kiểm soát hepcidin [1, 4].

Người có bệnh lý viêm ruột mạn tính, viêm loét đại tràng hoặc các bệnh lý gan mật cũng cần được theo dõi kỹ lưỡng. Sắt tự do không hấp thu có khả năng xúc tác tạo ra các gốc oxy hóa phản ứng, thúc đẩy phản ứng viêm tại chỗ [8]. Do đó, người bệnh không tự ý mua sắt liều cao trên 60 mg uống kéo dài mà không có xét nghiệm định kỳ chỉ số ferritin và hemoglobin.

Hướng dẫn áp dụng thực tế: Đúng liều, đúng thời điểm

Dựa trên các nghiên cứu tổng hợp, đối với phụ nữ bị cạn kiệt sắt hoặc thiếu máu thiếu sắt mức độ nhẹ, phác đồ tối ưu được gợi ý như sau:

Nên lựa chọn liều từ 60 mg đến 120 mg sắt nguyên tố dưới dạng muối sắt (như sắt sulfat) uống cách ngày một lần [1]. Khoảng cách 48 giờ giữa hai lần uống sẽ tạo điều kiện cho hepcidin hạ xuống mức cơ bản, mở lại kênh hấp thu sắt ở ruột cho lần uống tiếp theo [1].

Toàn bộ liều sắt trong ngày nên được uống một lần duy nhất vào buổi sáng [4, 5]. Uống vào buổi sáng giúp tận dụng thời điểm nồng độ hepcidin nội sinh ở mức thấp nhất trong ngày, tránh sự ức chế hấp thu vào buổi chiều tối [1].

Nên kết hợp liều sắt cùng với axit ascorbic (vitamin C) để tăng khả năng hòa tan và hấp thu của muối sắt qua biểu mô ruột [1]. Tránh uống cùng lúc với trà, cà phê, sữa hoặc các bữa ăn chứa nhiều canxi và phytate vì chúng làm giảm hấp thu sắt; thực phẩm có thể làm giảm khả năng hấp thu của sắt xuống mức thấp chỉ còn khoảng 2,3% [8].

Việc uống sắt cách ngày vào buổi sáng là phương thức đã được nghiên cứu đối chứng chứng minh giúp tăng tỷ lệ hấp thu phân đoạn, hạn chế hepcidin kìm hãm và giảm tác dụng phụ trên hệ tiêu hóa. Người bệnh nên tham khảo ý kiến nhân viên y tế để thực hiện xét nghiệm định lượng sắt, từ đó lựa chọn liều dùng và thời gian bổ sung phù hợp nhất cho tình trạng sức khỏe của bản thân.