Nhiều người truyền tai nhau thói quen uống trà thảo mộc mỗi ngày để ổn định chỉ số tim mạch. Trong đó, trà từ lá cây đại bi (tên khoa học là Blumea balsamifera) thường được nhắc đến như một phương thuốc dân gian giúp kiểm soát huyết áp cao. Tuy nhiên, việc sử dụng theo lời đồn thiếu cơ sở thực nghiệm có thể dẫn đến những hiểu lầm tai hại về sức khỏe tim mạch.

Thực tế, các bằng chứng khoa học hiện nay chỉ ghi nhận việc dùng cây đại bi hỗ trợ huyết áp qua kinh nghiệm dân gian hoặc nghiên cứu sơ khởi trong phòng thí nghiệm. Chưa có thử nghiệm lâm sàng chuẩn mực trên người chứng minh uống trà lá đại bi thay thế được thuốc hạ áp. Do đó, người bệnh không nên tự ý bỏ phác đồ điều trị của bác sĩ để thay bằng thảo dược này.

Nguồn gốc cây đại bi và bối cảnh sử dụng dân gian

Cây đại bi, còn được gọi là sài bi ngải hay sambong, thuộc họ Cúc (Asteraceae) và phân bố rộng rãi ở vùng Đông Nam Á [1], [2]. Trong y học cổ truyền các nước như Indonesia hay Philippines, cây thuốc này thường được người dân thu hái để đun nước uống [1]. Một tổng quan nghiên cứu năm 2021 cho thấy cây đại bi từng được ứng dụng trong kinh nghiệm bản địa để hỗ trợ các triệu chứng như viêm xoang, đau thắt bụng, ho, sỏi thận, cảm cúm và dùng như chất lợi tiểu [1].

Cũng theo các tài liệu dược lý cổ truyền, loại thảo dược này được ghi nhận có tiềm năng cải thiện một số rối loạn sinh lý thông thường như đau nhức phong thấp và huyết áp cao [3], [2]. Dù vậy, những ghi nhận cổ truyền mang tính gợi ý lâm sàng chứ chưa phải là chứng cứ xác nhận hiệu quả điều trị thực tế. Việc chuyển đổi từ một cây thuốc chữa mẹo dân gian sang bài thuốc được y học hiện đại công nhận đòi hỏi quá trình kiểm nghiệm khắt khe.

Các hoạt chất sinh học và cơ chế tác động giả định

Về mặt hóa học thực vật, cây đại bi chứa hệ hoạt chất khá phong phú được chia thành hai nhóm bay hơi và không bay hơi [1]. Nhóm chất bay hơi gồm tinh dầu với các hợp chất sesquiterpene chiếm hàm lượng chủ yếu, kết hợp nhiều thành phần thơm phân tử nhỏ, terpenoid, acid béo, phenol, cồn, aldehyde, ether, ketone, pyridine, furan và alkane [1], [4]. Phân tích trên tinh dầu bay hơi của loài cây này xác định được 42 hợp chất, chiếm đến 97,65% tổng diện tích pic sắc ký [4].

Nhóm không bay hơi trong lá đại bi bao gồm các hợp chất flavonoid, flavanone và chalcone [1]. Trong lý thuyết y học, các flavonoid thường được kỳ vọng tham gia chống oxy hóa và cải thiện độ giãn của thành mạch. Dịch chiết và các hợp chất trong cây đại bi đã thể hiện nhiều hoạt tính sinh học trong các mô hình thử nghiệm như chống oxy hóa, kháng khuẩn, kháng nấm, chống viêm, hạ lipid máu, bảo vệ gan, điều hòa miễn dịch và hạ đường huyết [1].

Bên cạnh đó, một cơ chế hạ huyết áp gián tiếp thường được nhắc tới là khả năng lợi tiểu [1]. Tăng bài tiết nước tiểu giúp đào thải bớt lượng muối và nước dư thừa, từ đó giảm gánh nặng lòng mạch máu. Nghiên cứu thực nghiệm xác nhận tinh dầu đại bi có khả năng dọn gốc tự do DPPH với chỉ số nồng độ ức chế 50% (IC50) là 0,6342 microL/mL, cho thấy hoạt tính chống oxy hóa tăng dần theo nồng độ [4]. Hoạt tính chống oxy hóa này về mặt lý thuyết giúp giảm thiểu stress oxy hóa trên tế bào nội mô mạch máu [5], [4].

Các nghiên cứu tiền lâm sàng nói gì về đại bi?

Cho đến nay, chưa có công trình nào kiểm chứng tác dụng giãn mạch trực tiếp của flavonoid từ đại bi trên mô hình động vật tăng huyết áp chuyên biệt trong các dữ liệu thu thập được. Hầu hết các thử nghiệm hiện đại về cây đại bi tập trung vào tế bào ung thư gan, quá trình biệt hóa mỡ và bệnh đái tháo đường [6], [3], [2], [5].

Một nghiên cứu công bố năm 2008 đã khảo sát tác động của dịch chiết đại bi qua dung môi methanol (BME) lên các dòng tế bào ung thư biểu mô tế bào gan của chuột (McA-RH7777) và người (HepG2) [3], [2]. Nghiên cứu chỉ ra dịch chiết làm ngừng chu kỳ tế bào ở pha G1 thông qua giảm biểu hiện cyclin-E, giảm phosphoryl hóa protein retinoblastoma và giảm phối tử APRIL thúc đẩy tế bào khối u phát triển mà không gây độc tế bào gan bình thường của chuột [3], [2]. Dù nghiên cứu này có nhắc đến việc cây đại bi được biết tới với công dụng cải thiện tăng huyết áp, trọng tâm thí nghiệm thực tế hoàn toàn là tế bào ung thư gan trong ống nghiệm [3], [2].

Vào năm 2009, một nghiên cứu khác xem xét tác động chống béo phì của dịch chiết cây đại bi trên dòng tế bào tiền mỡ và tế bào mỡ 3T3-L1 [6]. Kết quả cho thấy dịch chiết ức chế tích tụ lipid, ức chế enzyme GPDH, làm giảm các yếu tố phiên mã sinh mỡ như PPAR-gamma, C/EBPs, leptin, đồng thời làm tăng nồng độ protein adiponectin [6]. Các nhà nghiên cứu nhận định sự gia tăng adiponectin này có thể đem lại tiềm năng chống xơ vữa động mạch và kháng viêm [6]. Dù tình trạng xơ vữa liên quan mật thiết đến huyết áp, thí nghiệm này mới dừng lại trên mô hình tế bào nuôi cấy trong đĩa petri [6].

Đến năm 2024, một thử nghiệm trên động vật đã đánh giá sự kết hợp giữa dịch chiết lá đại bi và lá Coccinia grandis [5]. Thí nghiệm tiến hành trên chuột cống trắng Wistar đực bị gây đái tháo đường bằng streptozotocin (liều 65 mg/kg) và nicotinamide (liều 110 mg/kg) [5]. Các nhóm chuột bệnh được cho uống glibenclamide (4,5 mg/kg), dịch chiết C. grandis (300 mg/kg), dịch chiết đại bi (150 mg/kg), cùng các tỷ lệ phối hợp 1:1, 1:3 và 3:1 trong vòng 28 ngày [5].

Kết quả sau 28 ngày cho thấy tỷ lệ phối hợp dịch chiết lá đại bi với C. grandis là 1:3 đạt hiệu quả hạ đường huyết lúc đói cao nhất [5]. Phối hợp này còn làm giảm malondialdehyde, tăng nồng độ enzyme chống oxy hóa superoxide dismutase và catalase trong mô tụy và gan, hỗ trợ tái tạo tiểu đảo Langerhans và tăng biểu hiện insulin [5]. Dù mang lại kết quả tích cực về chuyển hóa nội tiết và oxy hóa mô, nghiên cứu không đo lường chỉ số huyết áp hay sức cản lòng mạch của chuột [5].

Giới hạn bằng chứng và khoảng cách chuyển giao lên người

Nhìn nhận một cách khách quan, toàn bộ thông tin khoa học hiện tại về cây đại bi chỉ dừng lại ở thử nghiệm trong ống nghiệm (in vitro) hoặc trên chuột cống (in vivo) [6], [3], [2], [5]. Nghiên cứu trên tế bào mỡ 3T3-L1 hay tế bào gan không phản ánh phản ứng phức tạp của hệ tuần hoàn người sống [6], [3], [2]. Chuột đái tháo đường được dùng liều chiết xuất dạng cồn 70% chuẩn hóa liều lượng cố định (150 mg/kg), hoàn toàn khác biệt với thói quen hãm vài lá khô uống trong đời thường [5].

Một rào cản lớn khác nằm ở sự biến thiên hoạt chất sinh học của bản thân cây đại bi. Nghiên cứu hình thái năm 2016 trên cây trồng cho thấy các tính trạng hình thái và trọng lượng lá cây đại bi có hệ số biến thiên rất lớn giữa các quần thể khác nhau [7]. Sự khác biệt về đường kính thân, số lượng lá và tỷ lệ lá già, lá non ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dược liệu thu hoạch [7]. Do đó, nước hãm từ lá tươi hoặc lá khô thu hái tự nhiên không thể bảo đảm một nồng độ flavonoid hay chất có hoạt tính nhất quán.

Đặc biệt, chưa hề có một thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên nào trên người đo lường tác dụng hạ áp thực tế của nước sắc đại bi. Mọi giả định về khả năng làm giãn mạch của flavonoid hay tác dụng lợi tiểu từ cây chỉ dừng ở mức suy luận dựa trên các cây cùng họ Cúc [1], [8]. Chẳng hạn, cây cúc La Mã (Chamaemelum nobile) cùng họ Cúc đã được thử nghiệm cho chuột uống dịch chiết nước liều 140 mg/kg trong 3 tuần và cho thấy hiệu quả lợi tiểu cùng hạ huyết áp [8]. Dù vậy, không thể đánh đồng dữ liệu của một cây khác họ hàng sang hiệu quả của lá đại bi trên người bệnh.

Những hiểu lầm thường gặp khi dùng lá đại bi

Hiểu lầm phổ biến nhất là coi trà lá đại bi như một loại "thần dược" có thể thay thế thuốc tây hạ áp. Bệnh tăng huyết áp là bệnh lý mạn tính gây tổn thương dần lên tim, thận, mắt và não bộ nếu áp lực dòng máu không được kiểm soát chặt chẽ. Việc người bệnh tự ý bỏ thuốc điều trị theo toa để chuyển hẳn sang uống trà lá đại bi có thể dẫn tới những đợt tăng huyết áp kịch phát, đột quỵ não hoặc nhồi máu cơ tim nguy hiểm.

Một ngộ nhận khác là thảo mộc tự nhiên thì an toàn tuyệt đối và uống càng nhiều càng tốt. Tinh dầu đại bi có chứa nhiều thành phần thơm và sesquiterpene [1], [4]. Việc đun sắc lá quá đặc hoặc uống liên tục với lượng lớn có thể gây kích ứng đường tiêu hóa, quá tải chức năng gan thận hoặc gây tương tác với các loại thuốc điều trị đang sử dụng.

Nhiều người cũng cho rằng dùng bài thuốc dân gian trị sỏi thận, lợi tiểu từ đại bi sẽ tự động làm hạ huyết áp ổn định lâu dài [1]. Thực tế, tác dụng lợi tiểu chỉ là một phần nhỏ trong việc kiểm soát dịch cơ thể và cần được bù trừ điện giải cân bằng [8]. Nếu uống thảo dược bừa bãi gây rối loạn nước và điện giải mà huyết áp vẫn không về ngưỡng an toàn thì nguy cơ suy thận càng dễ xảy ra.

Những ai cần thận trọng khi sử dụng?

Người đang mắc bệnh tăng huyết áp từ giai đoạn 1 trở lên bắt buộc phải tuân thủ điều trị y tế chuyên khoa. Nhóm đối tượng này tuyệt đối không được dùng trà lá đại bi như biện pháp can thiệp độc lập. Bất kỳ sự thay đổi huyết áp đột ngột nào do tự ý dùng thảo dược phối hợp với thuốc hạ áp đều có thể gây tụt huyết áp quá mức hoặc che lấp triệu chứng nguy hiểm.

Người có bệnh nền đái tháo đường đang sử dụng các loại thuốc điều trị như glibenclamide hoặc tiêm insulin cần đặc biệt lưu ý [5]. Do dịch chiết lá đại bi đã thể hiện khả năng làm tăng biểu hiện insulin và giảm đường huyết trên mô hình động vật [5], việc dùng song song thảo mộc này với thuốc tây có thể làm tăng nguy cơ hạ đường huyết quá mức.

Phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ em là những nhóm chưa từng có dữ liệu nghiên cứu về tính an toàn khi dùng cây đại bi [1]. Tinh dầu và các chất có hoạt tính sinh học mạnh trong lá có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi hoặc trẻ nhỏ [1], [4]. Những người có cơ địa dị ứng phấn hoa, thực vật họ Cúc cũng cần cẩn thận vì có thể gặp phản ứng mẫn cảm khi uống nước lá [1].

Người suy giảm chức năng gan hoặc thận mạn tính cũng không nên tùy tiện sử dụng các loại nước sắc thảo dược chưa qua tinh chế [1]. Tinh dầu đại bi có hoạt tính ức chế và tác động lên các thụ thể tế bào [6], [3], [2], do đó người bệnh cần tham vấn ý kiến của bác sĩ điều trị trước khi dùng thêm bất kỳ loại nước uống dược liệu nào ngoài chế độ ăn thông thường.

Lời khuyên áp dụng an toàn trong đời sống

Nếu bạn muốn dùng đại bi như một dạng trà giải khát theo sở thích cá nhân, hãy xem đây thuần túy là thức uống hỗ trợ tinh thần, không phải là thuốc chữa bệnh. Chỉ nên dùng lá đã được phơi khô sạch sẽ, bảo đảm không bị nấm mốc hoặc nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật [4]. Lượng dùng mỗi lần chỉ nên ở mức vừa phải, pha loãng như một ấm trà nhạt trong ngày.

Tuyệt đối không đun sắc cô đặc lá đại bi uống thay thế nước lọc hàng ngày. Do chưa có hướng dẫn chính thức về liều dùng an toàn của lá đại bi trên người, bạn không nên sử dụng kéo dài liên tục qua nhiều tuần liền [1]. Người dùng cũng không được tự ý phối hợp lá đại bi với các loại thảo dược khác theo các bài thuốc truyền miệng không rõ nguồn gốc.

Để kiểm soát huyết áp một cách khoa học, người bệnh cần đặt chế độ dinh dưỡng và lối sống lành mạnh lên hàng đầu. Hãy duy trì chế độ ăn giảm bớt muối, tăng cường rau xanh, trái cây tươi, duy trì hoạt động thể chất đều đặn và kiểm soát cân nặng hợp lý [6], [8]. Khi xuất hiện các cơn đau đầu, chóng mặt hoặc chỉ số huyết áp đo tại nhà vượt mức bình thường, cần đi khám tại cơ sở y tế gần nhất thay vì trông đợi vào các loại trà thảo dược dân gian.

Trà lá đại bi là thức uống truyền thống gắn liền với văn hóa Đông Nam Á và cho thấy nhiều hoạt tính sinh học thú vị trong phòng thí nghiệm. Dẫu vậy, khoảng cách từ đĩa petri ra đến thực tế lâm sàng trên người vẫn còn rất xa. Hãy luôn là người tiêu dùng thông thái, tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa và kiên trì với phác đồ điều trị chính thống để bảo vệ sức khỏe tim mạch của chính mình.