Tên gọi khác: Đậu tằm, Đậu xanh, Lục đậu, Má thủa kheo (Thái), Thúa kheo (Tày)
Tác dụng thanh nhiệt, tiêu thử, lợi thủy, giải độc.
Cách sử dụng trong đời sống
Đậu xanh là món ăn thông dụng trong nhân dân, trộn với gạo nếp để đồ xôi, làm bánh, nấu cháo, nấu chè, làm giá đậu ăn sống hoặc xào. Nó còn là nguyên liệu làm miến. Tác dụng chữa bệnh của đậu xanh từ lâu đã được ghi trong sách Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh và Bản thảo cương mục của Lý Thời Trần, như chữa sốt nóng, phiền khát, phù thũng, tà lý, mụn nhọt sưng tấy, lở miệng lưỡi, các trường hợp ngộ độc… Vỏ hạt đậu xanh cũng có tác dụng giải nhiệt, tiêu độc, làm cho mắt khỏi mờ.
Liều dùng: Hạt đậu xanh 15–30g/ngày, sắc nước uống.
Dùng ngoài: Giã nát đắp tại chỗ. Ở Philippines, nước sắc hạt đậu xanh là thuốc lợi tiểu chữa bệnh beri-beri. Còn ở Nhật Bản, hạt đậu xanh lại phòng ngừa bệnh này.
Bài thuốc có đậu xanh
1. Phòng và chữa say nắng:
Hạt đậu xanh lượng vừa đủ, sắc nước uống.
2. Chữa bệnh ôn nhiệt, sốt cao, hôn mê, co giật (Thượng “Thần tiên cương yếu”):
Vỏ hạt đậu xanh, sinh địa, huyền sâm, thạch cao, huyền minh phấn, cam thảo, mỗi vị 10g. Sắc nước uống (Y học vệ sinh giải tạp chú – Chu Văn An).
3. Chữa phát nóng, sưng quai hàm, nhức nhối:
Đậu xanh tán hoàn thô nhã nhỏ trộn với giấm, phết một lớp thật dày lên chỗ sưng đau. Nếu khô lại thì thêm giấm vào. Ngày làm một lần đến khi khỏi bệnh (Nam dược thần hiệu).
4. Chữa ngộ độc:
Hạt đậu xanh để sống, nghiền nhỏ, chế nước vào, hòa đều cho uống thật nhiều để nôn ra và giải độc.
5. Chữa ngộ độc rượu:
Đậu xanh 90–120g, bồ công anh, đại thanh diệp, tử thảo căn, kim ngân hoa mỗi vị 30–60g, cam thảo sống 9–15g. Sắc nước uống, ngày m…