Dược liệuAraceae
Khoai sọ
Colocasia esculenta (L.) Schott
Tên gọi khác: Khoai môn, Khoai nước, Môn ngọt, Môn nước
Tên tiếng Anh: Katchu, Coco Yam, Donkey'S Ear, Arum-Lily Potatoes
Chữa mụn nhọt (Lá giã đắp). Còn dùng chữa rắn cắn, ong đốt, bệnh tâm thần, động thai.
Cách sử dụng trong đời sống
- Các bộ phận của cây khoai sọ đều ăn được. Củ khoai sọ có giá trị dinh dưỡng gấp 1,5 lần khoai tây. Củ đồ chín là một thực phẩm giàu năng lượng. Hạt tinh bột của khoai sọ có kích thước nhỏ nhất so với hạt của các cây lương thực khác nên dễ tiêu hóa. Củ khoai sọ luộc ăn chống đói, hoặc nấu canh với rau rút, cua đồng là món ăn ngon. Bột củ khoai sọ ở Ấn Độ còn được dùng nấu cháo, làm bánh kẹo và làm nguyên liệu sản xuất cồn công nghiệp, củ khoai sọ không ăn sống được vì gây ngứa. Bẹ lá dùng nấu giấm với cá, ốc, thịt hoặc dùng để muối dưa ăn. Lá và bẹ lá còn dùng làm thức ăn xanh cho lợn. Trong y học cổ truyền, củ khoai sọ nấu với cá quả, cá diếc ăn có tác dụng điều hòa nội tạng, hạ khí đầy, bổ hư tổn chữa hư lao yếu sức; với rau rút, cua đồng làm dễ ngủ, bớt mỏi mệt; củ khoai sọ thái nhỏ, nấu sôi, lấy nước tắm rửa chữa mẩn ngứa. Trẻ con bị chốc đầu, chảy nước mủ, dùng củ khoai sọ to giã nát đắp rất tốt. Lá khoai sọ 20 – 30g sắc uống hoặc phối hợp với các vị thuốc khác chữa tâm phiền ở phụ nữ có mang, thai động không yên. Để chữa rắn cắn, mụn nhọt, ong đốt, lấy lá khoai sọ tươi giã nát đắp. Ở Trung Quốc, lá khoai sọ chữa tiêu chảy, đổ mồ hôi trộm; củ khoai sọ chữa lao hạch ở cổ (loa lịch), mụn nhọt sưng tấy, hắc lào, bỏng; hoa khoai sọ chữa nôn ra máu, đau dạ dày, sa tử cung, lòi dom ở trẻ em. Ở Malaysia, lá và bẹ lá khoai sọ giã nát đắp chữa vết thương, củ khoai sọ nghiền nát đắp chữa rắn cắn. Ở Indonesia, củ khoai sọ, hành và quả me dùng xát vào chân để chữa trạng thái bồn chồ…
