Dược liệuCủ nâu
Khoai trời
Dioscorea bulbifera L.
Tên gọi khác: Bọ Mẩy, Đắng cảy
Tên tiếng Anh: Aerial Yam, Bitter Yam, Air Potato, Air Yam
Củ dái và củ dưới đất (thân rễ) khoai trời được dùng chữa thổ huyết, ho ra máu, chảy máu cam, chữa bướu cổ, sưng tuyến giáp, viêm hạch bạch huyết, lao hạch, viêm dạ dày, ruột.
Cách sử dụng trong đời sống
- Củ dái và củ dưới đất (thân rễ) khoai trời được dùng chữa thổ huyết, ho ra máu, chảy máu cam. Ngày dùng 8 – 16g củ khô sắc uống. Nếu họ thì dùng củ dái tốt hơn. Còn dùng chữa bướu cổ, sưng tuyến giáp, viêm hạch bạch huyết, lao hạch, viêm dạ dày, ruột. Liều dùng mỗi ngày 10 – 15g sắc nước uống có thể dùng đến 30g một ngày. Để chữa đau đầu, thái lát củ khoai dái tươi, dán vào hai bên thái dương. Để dùng ngoài, lấy khoảng 20 – 30g củ dài hoặc thân rễ (củ dưới đất) tươi, cạo bỏ vỏ, giã nát, vắt lấy nước uống, bã đắp vào chỗ sưng tấy, mụn nhọt, rắn cắn, chó dữ cắn. Củ dái và củ dưới đất có độc, nhưng gọt sạch vỏ, ngâm nước và rửa nhiều lần rồi luộc kỹ thì chất độc bị loại bỏ đi và có thể ăn được. Bột khoai trời cũng tương tự như bột ngũ cốc và bột gạo. Ở Indonesia, dái củ được dùng chữa đau bụng, củ (thân rễ) được dùng chữa viêm hạnh nhân, áp xe, sưng phồng và để chống độc; toàn cây để lợi sữa [Med. herb index, 1995: 287]. Nhân dân vùng phía Tây đảo New Guinea (thuộc Indonesia) dùng khoai trời để chữa ia chảy (Holdsworth, 2001). Ở Ấn Độ, khoai dái và củ dưới đất có vị đắng, cay nồng được dùng tươi, giã nát, đắp để chữa lở loét ngoài da; có thể phơi khô, tán bột, rắc lên chỗ lở loét (củ của cây mọc hoang được coi là có tác dụng tốt hơn). Dùng trong (thường dùng dái củ) phối hợp với thìa là, đường, sữa để trị trĩ, giang mại, lỵ. Bột dái củ có tác dụng sẵn se, được dùng chữa ia chảy; thường lấy bột chế thành viên để uống [Chopra et al., 2001: 97; Nadkarni, 1999: 450]. Còn được dùng…
