Tên tiếng Anh: Bellyache Bush, Oil Nut Tree, Pandou, Physic Nut
Chữa ghẻ lở (Dầu hạt bôi). Mụn nhọt, Eczema (Lá). Điều kinh (Vỏ).
Cách sử dụng trong đời sống
Dầu hạt mè lai được dùng bôi ngoài trị bệnh phong. Nhựa cây bôi chữa rắn cắn. Lá sắc uống chữa ho khan, mỗi lần dùng 7-12 lá. Còn dùng lá mè lai, lá vạn niên thanh và củ ngô đồng nấu thành cao để làm thuốc dán.
Ở một số nước Đông Nam Á, nhựa mủ mè lai được dùng ngoài trị loét, lá tươi giã đắp trị sưng vú. Lá dùng uống trị bệnh sốt từng cơn hoặc nấu nước tắm trị sốt. Nước sắc lá là thuốc tẩy, làm dễ tiêu, trị bệnh về tai và hoa liễu, thuốc lọc máu. Lá đắp ngoài trị mụn nhọt, eczema và ngứa. Rễ trị bệnh phong và nước sắc vỏ cây có tác dụng điều kinh.
Mè lai được dùng ở Ấn Độ trị bệnh đường tiết niệu, nước sắc vỏ cây để điều kinh, nước sắc lá trị đau dạ dày, bệnh hoa liễu và đổ lọc máu. Lá dùng đắp trị mụn nhọt, ngứa, eczema, dịch ép lá bôi trị loét lưỡi trẻ nhỏ, lá tươi đắp tật sưng vú. Ở Nepal, nhân dân trị đau răng bằng nhựa mủ mè lai.
Ở Haiti, nước sắc lá mè lai dùng uống trị đau bụng, dịch ép lá trị phù. Ở Đông Phi, nhân dân dùng nhựa mủ trị vết loét trên lưỡi trẻ nhỏ; lá được dùng ngoài trị bệnh ngoài da và uống để nhuận tràng; trồng mè lai làm hàng rào để đuổi rắn. Ở Venezuela, rễ được đùng trị bệnh phong và giải độc rắn cắn.
Ở Costa Rica, nước sắc toàn cây mè lai được coi là có tác dụng trị ung thư, mặt khác ở đó có tỷ lệ người mắc ung thư thực quản cao, có thể do mè lai chứa một số este đồng gây ung thư trong đầu hạt. Ở đảo Ăng Ti, nhân dân dùng lá tươi trị sốt trong sốt từng cơn, nhựa mủ bôi trị loét, dầu hạt dùng ngoài trị bệnh phong.
*Nguồn: Cây thuốc và động vật là…