Nhiều người có thói quen hễ mệt mỏi, viêm nhiễm ngoài da hay rối loạn tiêu hóa là tìm đến các loại thảo dược dân gian để nấu nước uống hằng ngày. Trong số đó, lưu kí nô (danh pháp khoa học Hypericum sampsonii) thường được truyền miệng là vị thuốc nam lành tính, giải độc tốt. Tuy nhiên, việc tự ý dùng thảo dược này dưới dạng sắc uống tại nhà tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng.
Câu trả lời ngắn gọn là người dân tuyệt đối không tự ý dùng lưu kí nô dạng sắc uống, đặc biệt là phụ nữ mang thai, người suy giảm chức năng gan, người suy thận và trẻ nhỏ. Nhóm thảo dược này chứa nhiều hoạt chất phức tạp nhưng dữ liệu thử nghiệm an toàn trên các đối tượng đặc thù này hiện tại vẫn còn rất hạn chế [1].
Dược liệu lưu kí nô và thói quen tự ý sắc uống
Lưu kí nô, thuộc họ Guttiferae, là cây thuốc cổ truyền đã được sử dụng nhiều tại Trung Quốc để hỗ trợ các chứng bệnh như kiết lỵ, viêm ruột, viêm tuyến vú, lao hạch hay chấn thương bầm dập [1]. Trong dân gian, người ta thường thu hái toàn cây đem phơi khô rồi đun nước sắc uống với suy nghĩ thuốc cây cỏ luôn an toàn.
Tuy nhiên, dạng sắc uống truyền thống thường không định lượng được chính xác nồng độ hoạt chất chiết xuất ra ngoài. Việc uống tùy tiện không theo chỉ định có thể gây quá tải cho các cơ quan chuyển hóa trong cơ thể. Khi vào cơ thể, các hợp chất tự nhiên cũng tác động trực tiếp lên hệ thống enzyme và cơ quan nội tạng tương tự tân dược.
Cơ chế tác động và những hoạt chất chính
Các phân tích hóa thực vật ghi nhận có đến 227 chất chuyển hóa thứ cấp đã được phân lập từ cây lưu kí nô (Hypericum sampsonii) [1]. Nhóm chất này bao gồm polycyclic polyprenylated acylphloroglucinols (PPAPs), benzophenone, xanthone, flavonoid, naphthodianthrone, anthraquinone cùng các hợp chất thơm [1].
Trong đó, PPAPs được đánh giá là hoạt chất chính mang lại nhiều hoạt tính sinh học [1]. Dù các chất này thể hiện tiềm năng chống viêm, kháng khuẩn, chống virus, chống trầm cảm và chống khối u, toàn bộ phạm vi hoạt tính sinh học của chúng vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn [1]. Hơn nữa, những chất chiết xuất từ chi Hypericum nói chung đã được chứng minh có khả năng cảm ứng mạnh mẽ enzyme chuyển hóa cytochrome P450 (đặc biệt là men CYP3A4) và protein vận chuyển P-glycoprotein [2]. Cơ chế này làm thay đổi quá trình thanh thải, gây giảm nồng độ thuốc hoặc tạo độc tính khi dùng chung [2].
Bằng chứng khoa học: Lợi ích và khoảng trống an toàn
Một bài tổng quan công bố năm 2023 đã tổng hợp dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu lớn như Web of Science, SciFinder, PubMed, CNKI về cây lưu kí nô [1]. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào việc xác định cấu trúc hóa học của chất chuyển hóa, trong khi các đánh giá hiệu quả dựa trên ứng dụng lâm sàng vẫn thiếu dữ liệu đầy đủ [1]. Đáng chú ý, dữ liệu về độ an toàn của loài thảo dược này hiện rất hạn chế [1].
Dữ liệu lâm sàng phong phú hơn chủ yếu đến từ loài cùng chi là Hypericum perforatum trên đối tượng người lớn trầm cảm [3]. Một thử nghiệm mù đôi ngẫu nhiên trên 240 bệnh nhân trầm cảm nhẹ đến vừa (điểm HAM-D từ 16 đến 24) so sánh chiết xuất thảo dược Hypericum (Ze 117) với fluoxetine trong 6 tuần [4]. Kết quả cho thấy tỷ lệ biến cố bất lợi ở nhóm thảo dược là 8%, thấp hơn mức 23% ở nhóm fluoxetine, trong đó rối loạn tiêu hóa chiếm 5% [4].
Một nghiên cứu mù đôi có đối chứng giả dược năm 2004 theo dõi 140 bệnh nhân ngoại trú (94 nữ, 46 nam) bị trầm cảm vừa dùng chiết xuất Hypericum (STW 3-VI) liều 900 mg/ngày trong 6 tuần [5]. Thử nghiệm ghi nhận điểm HAM-17 giảm từ 22,8 xuống 11,8 điểm ở nhóm dùng thảo dược, cho thấy khả năng dung nạp tốt tương đương giả dược và không có biến cố bất lợi nghiêm trọng nào [5]. Một phân tích dưới nhóm năm 2016 trên bệnh nhân trầm cảm nặng vừa cũng cho thấy chiết xuất thảo dược (WS 5570) dung nạp tốt hơn paroxetine, không gây tăng cân hay rối loạn tình dục [2].
Dù vậy, một bài báo năm 2007 chỉ rõ rằng các kết luận an toàn ban đầu của chiết xuất thảo dược thuộc chi này đã phải xem xét lại sau khi được dùng rộng rãi ngoài cộng đồng [6]. Thực tế theo dõi cho thấy các nghiên cứu lâm sàng quy mô nhỏ không thể phát hiện hết nguy cơ tiềm ẩn [6]. Đặc biệt, hiện chưa có nghiên cứu an toàn nào được tiến hành trên phụ nữ mang thai, bệnh nhân suy gan, suy thận hay trẻ em đối với lưu kí nô [1].
Nguy cơ tiềm ẩn đối với gan qua thử nghiệm động vật
Do thiếu thử nghiệm độc tính chuyên sâu trên lưu kí nô, các nhà khoa học phải tham khảo mô hình tiền lâm sàng trên các loài cùng chi Hypericum. Một nghiên cứu năm 2012 thực hiện trên chuột theo hướng dẫn OECD 423 và 407 để đánh giá độc tính cấp và liều lặp lại trong 28 ngày của dịch chiết Hypericum polyanthemum [7].
Trong thử nghiệm này, liều cấp đơn 2000 mg/kg không ghi nhận dấu hiệu lâm sàng hay tử vong [7]. Tuy nhiên, khi cho chuột uống liều lặp lại hàng ngày trong 28 ngày với các mức 90, 450 và 900 mg/kg, các nhà nghiên cứu phát hiện liều 450 và 900 mg/kg làm ảnh hưởng đến tăng trọng cơ thể, gây biến đổi các chỉ số sinh hóa, huyết học và làm thay đổi mô bệnh học của gan [7]. Chuột dùng liều 90 mg/kg không có dấu hiệu nhiễm độc [7]. Kết quả chỉ ra rằng gan chính là cơ quan đích chịu tác động độc tính tiềm tàng khi dùng liều cao lặp lại [7].
4 nhóm người tuyệt đối không tự ý dùng
Nhóm đầu tiên là phụ nữ mang thai. Hiện hoàn toàn chưa có nghiên cứu kiểm chứng tác động của các chất chuyển hóa PPAPs trong lưu kí nô lên sự phát triển của thai nhi hay lưu lượng máu tử cung [1]. Việc hoạt chất tác động lên hệ thống men gan và các thụ thể có thể gây nguy hiểm khó lường cho thai kỳ.
Nhóm thứ hai là người suy giảm chức năng gan. Gan là cơ quan lọc và xử lý chính các chất chuyển hóa thứ cấp. Nghiên cứu độc tính lặp liều trên chuột từ chi Hypericum đã chứng minh mô gan bị tổn thương khi dung nạp hoạt chất liều cao [7]. Người bệnh gan dùng dịch sắc đậm đặc tự nấu sẽ vô tình tạo áp lực phá hủy tế bào gan nhanh hơn.
Nhóm thứ ba là người suy thận. Để đào thải hơn 200 hợp chất cùng các sản phẩm thoái hóa của lưu kí nô, thận phải hoạt động liên tục [1]. Ở người suy thận, tốc độ lọc suy giảm khiến hoạt chất tích tụ lại trong máu, gây độc cho cơ thể.
Nhóm thứ tư là trẻ nhỏ. Hệ thống enzyme gan CYP450 và chức năng lọc của thận ở trẻ em chưa hoàn thiện như người trưởng thành. Trẻ nhỏ cũng chưa từng được đưa vào các thử nghiệm an toàn của lưu kí nô, nguy cơ ngộ độc cấp tính hoặc rối loạn chuyển hóa là rất lớn [1].
Cảnh giác tương tác thuốc nguy hiểm
Thảo dược chi Hypericum gây lo ngại lớn nhất về mặt an toàn là hiện tượng tương tác thuốc thông qua việc kích hoạt men CYP3A4 và P-glycoprotein [2]. Sự cảm ứng này làm hạ thấp nồng độ trong huyết tương của hàng loạt thuốc trị bệnh hiểm nghèo như thuốc chống thải ghép (cyclosporine, tacrolimus), thuốc kháng retrovirus điều trị HIV (indinavir), thuốc trị ung thư (irinotecan, imatinib) [2], [3].
Ngoài ra, thảo dược còn làm giảm tác dụng của theophylline, digoxin, midazolam, methadone, simvastatin, finasteride và các thuốc chống đông máu coumarin như warfarin [2], [8]. Báo cáo ghi nhận việc dùng chung warfarin với thảo dược có thể dẫn tới các biến cố xuất huyết nghiêm trọng đe dọa tính mạng như tụ máu, nôn ra máu, đi ngoài phân đen, xuất huyết dưới nhện hay huyết khối [8]. Dùng kèm thuốc chống trầm cảm nhóm SSRI còn kích hoạt hội chứng serotonin nguy hiểm [2].
Lời khuyên áp dụng thực tế an toàn
Người dân không tự ý hái cây lưu kí nô mọc hoang hoặc mua dược liệu khô trôi nổi về đun sắc lấy nước uống mỗi ngày. Những thói quen uống nước lá thay nước lọc rất dễ dẫn tới quá liều hoạt chất vô ý.
Nếu có nhu cầu điều trị bệnh lý, người bệnh cần đến các cơ sở y tế chuyên khoa y học cổ truyền để được kê đơn đúng liều lượng, đúng dạng bào chế. Khi đang sử dụng các thuốc tân dược điều trị tim mạch, chống đông máu, huyết áp, kháng virus hay thuốc ức chế miễn dịch, người bệnh cần thông báo đầy đủ cho bác sĩ trước khi muốn dùng thêm bất kỳ loại thảo dược hay trà giải độc nào [2], [8].
Lưu kí nô là cây thuốc truyền thống sở hữu nhiều hợp chất tiềm năng nhưng dữ liệu an toàn còn thiếu hụt trầm trọng [1]. Việc tự ý sắc uống tại nhà tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe khó lường. Người bệnh hãy là người tiêu dùng thông thái, luôn tham khảo ý kiến chuyên gia y tế trước khi đưa bất kỳ loại thảo mộc nào vào cơ thể để bảo vệ an toàn cho bản thân và gia đình.
