Nhiều người Việt có thói quen hãm nước cam thảo uống giải nhiệt mỗi ngày hoặc ngậm viên cam thảo để trị ho. Vị ngọt thanh cùng quan niệm thảo mộc thiên nhiên luôn lành tính khiến dược liệu này xuất hiện tràn lan trong các thang thuốc Đông y và đồ uống giải khát. Tuy nhiên, ít ai ngờ rằng loại thảo dược quen thuộc này lại tiềm ẩn nguy cơ gây biến chứng tim mạch nghiêm trọng nếu dùng sai cách.

Các bác sĩ tim mạch cảnh báo, hoạt chất trong rễ cam thảo có thể gây giữ muối nước, đào thải kali và gây tương tác nguy hiểm với một số loại thuốc điều trị [1], [2]. Đối với người mắc bệnh nền tim mạch, suy tim, tăng huyết áp hoặc bệnh thận, việc tùy tiện dùng cam thảo có thể dẫn đến rối loạn nhịp tim đe dọa tính mạng [1], [3], [2].

Cơ chế tác động: Vị ngọt thảo mộc ảnh hưởng huyết áp và tim mạch thế nào?

Hoạt chất chính tạo nên dược tính và vị ngọt của rễ cam thảo là axit glycyrrhizic (glycyrrhizin) [1], [2]. Khi vào cơ thể với liều cao hoặc dùng kéo dài, glycyrrhizin sẽ ức chế enzym 11-beta-hydroxysteroid dehydrogenase type 2 (11beta-HSD2) [1]. Enzym này bình thường có nhiệm vụ oxy hóa cortisol thành cortisone [1]. Khi enzym này bị ức chế, cortisol tích tụ và gắn vào các thụ thể khoáng hóa, dẫn đến hội chứng giả tăng aldosteron (pseudohyperaldosteronism) [1], [4].

Tình trạng ức chế liên tục enzym 11beta-HSD2 sẽ kích hoạt thận tăng giữ natri và bài tiết kali ra nước tiểu [1]. Hậu quả trực tiếp là cơ thể rơi vào trạng thái tăng natri máu, giữ nước làm tăng thể tích dịch tuần hoàn, đồng thời hạ kali máu nghiêm trọng [1], [4]. Nước tích tụ làm tăng gánh nặng tuần hoàn, khiến huyết áp tăng vọt và làm trầm trọng thêm tình trạng suy tim [1], [2].

Mặt khác, kali là ion điện giải tối quan trọng giúp duy trì điện thế màng tế bào cơ tim. Khi kali máu giảm sâu do tác động của cam thảo, tính ổn định điện sinh lý của tim bị phá vỡ, mở đường cho các cơn rối loạn nhịp thất chết người như xoắn đỉnh hay bão điện học [3], [4].

Bằng chứng khoa học: Các biến cố nguy hiểm từ cam thảo

Các nghiên cứu lâm sàng và báo cáo y khoa đã ghi nhận rõ tác hại tim mạch của rễ cam thảo. Một báo cáo lâm sàng năm 2019 công bố trường hợp bệnh nhân nữ xuất hiện cơn bão điện học (electrical storm) dẫn truyền từ tình trạng rối loạn nhịp thất do hạ kali máu sau khi tự ý sử dụng thảo dược chứa cam thảo mua tại hiệu thuốc Đông y [3]. Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh, bệnh nhân nhập viện cấp cứu vì rối loạn nhịp thất kèm hạ kali máu không rõ nguyên nhân cần được khai thác kỹ tiền sử sử dụng cam thảo [3].

Cũng trong năm 2019, một bài tổng quan công bố trên y văn quốc tế cho thấy một nghiên cứu trên các bệnh nhân điều trị bằng bài thuốc truyền thống của Nhật Bản có chứa cam thảo đã phát hiện 24,2% người bệnh bị hạ kali máu sau 34 ngày sử dụng [2]. Hạ kali máu làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp tim và có liên quan đến việc tăng nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân lên tới 10 lần [2]. Phân tích gộp của tác giả Penninkilampi được trích dẫn trong bài tổng quan này cũng chỉ rõ các tác dụng phụ khác gồm tiêu cơ vân, liệt chu kỳ, bệnh não do tăng huyết áp và ngừng tim [2].

Một báo cáo năm 2024 ghi nhận trường hợp ngộ độc do dùng quá liều viên nén cam thảo phối hợp, dẫn đến hạ kali máu nghiêm trọng, tăng huyết áp nặng và khởi phát cơn xoắn đỉnh (Torsade de Pointes) cùng các biểu hiện liệt chu kỳ [4]. Nghiên cứu chỉ ra việc tiêu thụ quá mức cam thảo gây hội chứng giả tăng aldosteron và có thể tác động tiêu cực đa hệ thống: nội tiết, tim mạch, thần kinh, tiêu hóa và miễn dịch [4].

Bên cạnh đó, mức độ nhạy cảm của mỗi cá nhân với hoạt chất của cam thảo có sự khác biệt rất lớn [3]. Đa số mọi người dùng 400 mg axit glycyrrhizic mỗi ngày sẽ gặp tác dụng phụ, nhưng một số cá nhân có thể bị ảnh hưởng chỉ với liều thấp 100 mg [3]. Nguyên nhân được cho là do đột biến gen HSD11B2 làm suy giảm hoạt tính enzym bảo vệ, biến cam thảo thành yếu tố môi trường kích hoạt cơn tăng huyết áp cấp hoặc hội chứng thừa khoáng hóa vỏ thượng thận [3].

5 nhóm người tuyệt đối nên tránh xa cam thảo

Dựa trên các nghiên cứu dược lý và cảnh báo lâm sàng, có 5 nhóm đối tượng chịu nguy cơ tổn thương nặng nề nhất khi sử dụng cam thảo:

Thứ nhất là người bị tăng huyết áp. Hoạt chất trong cam thảo gây giữ muối và nước, làm tăng thể tích máu và dẫn đến tăng huyết áp kháng trị [1], [2]. Người có tiền sử huyết áp cao dùng liều cao và kéo dài cam thảo có thể đối mặt với nguy cơ biến cố mạch máu hoặc bệnh não do tăng huyết áp [1], [2].

Thứ hai là bệnh nhân suy tim sung huyết. Người suy tim vốn có trái tim suy yếu, giảm khả năng bơm máu. Khi cam thảo gây giữ natri và tích tụ dịch, tuần hoàn ứ trệ sẽ làm tim làm việc quá tải, khiến các triệu chứng suy tim bùng phát dữ dội [1], [2]. Vì vậy, người suy tim sung huyết được khuyến cáo phải kiêng hoàn toàn các sản phẩm chứa cam thảo [2].

Thứ ba là người suy giảm chức năng thận. Thận là cơ quan chịu trách nhiệm bài tiết và điều hòa điện giải. Người có bệnh thận nhạy cảm hơn rất nhiều với tác dụng phụ của cam thảo và glycyrrhizin, do đó cam thảo ở liều cao và dùng kéo dài là chống chỉ định đối với nhóm bệnh nhân này [1].

Thứ tư là người đang sử dụng thuốc lợi tiểu hạ kali (như thiazide hoặc lợi tiểu quai) và thuốc hạ áp. Thuốc lợi tiểu quai và thiazide vốn dĩ đã làm tăng thải kali qua nước tiểu. Khi kết hợp với cam thảo, hiệu ứng hạ kali máu bị cộng dồn, đẩy nồng độ kali trong máu xuống mức nguy hiểm [2]. Ngoài ra, cam thảo còn gây nguy hiểm cho người đang điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển (ACE-inhibitors) [2].

Thứ năm là người đang dùng thuốc trợ tim digoxin hoặc thuốc chống đông warfarin. Hạ kali máu do cam thảo gây ra làm tăng độc tính của digoxin trên tim, dễ dẫn đến ngộ độc cơ tim và loạn nhịp chết người [2]. Bệnh nhân đang dùng digoxin hoặc warfarin được khuyến cáo tránh dùng cam thảo để hạn chế tối đa nguy cơ ngộ độc [2].

Ngoài 5 nhóm trên, phụ nữ mang thai cũng là đối tượng chống chỉ định dùng liều cao và kéo dài chiết xuất cam thảo [1]. Hoạt chất trong cam thảo ức chế enzym 11beta-HSD2, làm suy giảm sự phát triển của hệ hô hấp thai nhi (đã được ghi nhận trên mô hình chuột do cản trở quá trình trưởng thành phổi) [2]. Các bệnh nhân đang dùng thuốc tránh thai đường uống, hydrocortisone và prednisolone cũng chống chỉ định dùng liều lớn glycyrrhizin [1].

Lợi ích có bằng chứng và giới hạn của cam thảo

Dù tiềm ẩn nhiều nguy cơ tim mạch, cam thảo vẫn có những tác dụng sinh học nhất định trong các trường hợp điều trị chuyên biệt. Nghiên cứu năm 2016 của Sreenivasulu Puram và cộng sự trên bệnh nhân chứng khó tiêu nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori cho thấy: khi cho bệnh nhân dùng liều 120 mg cam thảo mỗi ngày trong 60 ngày, tỷ lệ xét nghiệm kháng nguyên H. pylori trong phân (HPSA) âm tính vào ngày thứ 60 đạt 56%, vượt trội so với mức 4% ở nhóm dùng giả dược [5]. Sự phối hợp này giúp tăng hiệu quả tiệt trừ vi khuẩn dạ dày nhờ đặc tính kháng khuẩn và kháng viêm [5].

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, một thử nghiệm lâm sàng năm 2021 của Zhou sử dụng viên nang tan trong ruột Glycyrrhizin Diamine (150 mg, 3 lần/ngày, trong 2 tuần) hỗ trợ bệnh nhân COVID-19 cho thấy nồng độ các chất chỉ điểm viêm như CRP, IL-4, TNF-alpha giảm rõ rệt, cải thiện chỉ số miễn dịch CD3+, CD4+, CD8+ và tỷ lệ gặp tác dụng không mong muốn thấp hơn nhóm chứng (15,38% so với 28,85%) [6].

Tuy nhiên, cam thảo không phải là thuốc giảm đau vạn năng. Một thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi năm 2024 trên 126 bệnh nhân phẫu thuật vùng họng-miệng (65 người dùng 1 g cam thảo súc họng, 61 người dùng nước đường giả dược) cho thấy việc súc họng bằng cam thảo không làm giảm đau sau phẫu thuật hay giảm lượng morphin tiêu thụ một cách có ý nghĩa [7]. Do đó, người bệnh không nên kỳ vọng dùng nước súc miệng cam thảo để thay thế thuốc giảm đau sau phẫu thuật [7].

Hiểu lầm thường gặp về rễ cam thảo

Hiểu lầm phổ biến nhất là quan niệm "thảo dược tự nhiên thì không có tác dụng phụ". Nhiều người cao tuổi uống trà cam thảo thay nước lọc mỗi ngày mà không hề biết huyết áp tăng vọt hay chân bị phù là do thói quen này. Thực tế, dữ liệu dược lý chứng minh glycyrrhizin can thiệp sâu vào chu trình chuyển hóa hormone nội tiết thượng thận [1].

Một sai lầm khác là nghĩ rằng phải uống liều cực đậm đặc mới bị ngộ độc. Nghiên cứu đã chứng minh chỉ với liều 100 mg axit glycyrrhizic, một số người mang cơ địa nhạy cảm hoặc đột biến enzym chuyển hóa đã có thể xuất hiện triệu chứng bất lợi [3]. Độc tính của cam thảo không chỉ phụ thuộc vào lượng dùng mà còn phụ thuộc vào thời gian sử dụng kéo dài và cơ địa từng người [1], [3].

Cách sử dụng an toàn và khuyến cáo áp dụng

Liên minh Châu Âu (EU) đưa ra giới hạn tiêu thụ tối đa của glycyrrhizin là 100 mg/ngày (tương đương 60-70 g cam thảo khô) [1]. Lượng tiêu thụ an toàn hàng ngày được đề xuất nằm trong khoảng 0,015 - 0,229 mg/kg thể trọng/ngày [1]. Đối với mục đích điều trị viêm loét dạ dày, liều dùng rễ cam thảo thường nằm trong khoảng 1 đến 15 g/ngày [1].

Khi sử dụng các chế phẩm thảo dược hoặc đồ uống giải khát, người tiêu dùng cần đọc kỹ nhãn sản phẩm để biết sự hiện diện của rễ cam thảo hoặc chiết xuất glycyrrhizin. Tuyệt đối không dùng cam thảo liên tục nhiều tuần liền nếu không có chỉ định chuyên môn. Những người mắc chứng tiêu chảy kéo dài hoặc nghiện rượu cũng cần hạn chế cam thảo vì hai yếu tố này dễ làm tình trạng hạ kali máu trở nên trầm trọng hơn [2].

Rễ cam thảo là vị thuốc hữu ích nhưng cũng là con dao hai lưỡi đối với hệ tim mạch [1], [2]. Người khỏe mạnh chỉ nên dùng với lượng vừa phải, ngắt quãng; người có bệnh lý tăng huyết áp, suy tim, bệnh thận hoặc đang uống thuốc tim mạch cần tuyệt đối tránh xa hoặc hỏi ý kiến bác sĩ điều trị trước khi dùng bất kỳ sản phẩm nào có chứa vị thuốc này [1], [2].