Nhiều phụ nữ khi chuẩn bị mang thai thường tìm đến gan động vật như một phương pháp bồi bổ tự nhiên nhằm bổ sung vi chất cho cơ thể. Gan được biết đến từ lâu là thực phẩm giàu dinh dưỡng bậc nhất trong bữa ăn hằng ngày.
Tuy nhiên, việc sử dụng thực phẩm này để bổ sung folate đòi hỏi sự thận trọng đặc biệt từ các bà mẹ tương lai. Dù mang lại lợi ích nhất định, gan chứa hàm lượng retinol rất lớn, dễ gây nguy cơ ngộ độc hoặc ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của thai nhi nếu dùng sai liều lượng.
Bối cảnh và nguồn gốc việc dùng gan bổ máu
Vào cuối những năm 1930, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng chiết xuất từ gan và nấm men có thể được sử dụng để điều trị một số trường hợp thiếu máu hồng cầu khổng lồ trong thai kỳ [1]. Đây là bước tiến nền tảng mở đường cho việc nhận diện vai trò thiết yếu của nhóm vitamin nhóm B đối với quá trình tạo máu.
Đến thập niên 1940, yếu tố tạo máu này được phân lập từ lá rau bina và được đặt tên là folate, bắt nguồn từ từ "folium" trong tiếng Latinh có nghĩa là lá cây [1]. Kể từ đó, folate được xem là một dưỡng chất thiết yếu mà cơ thể con người không thể tự tổng hợp, phải bổ sung qua đường ăn uống hoặc dược phẩm [1].
Cơ chế tác động của folate đối với thai kỳ
Folate đóng vai trò trực tiếp trong việc tổng hợp DNA và RNA ở thai nhi, trở thành yếu tố quyết định hàng đầu đối với kết cục thai kỳ [2]. Tình trạng thiếu hụt folate khiến thai nhi đối mặt với nguy cơ dị tật bẩm sinh cao, đồng thời làm tăng nguy cơ biến chứng trong thai kỳ cho cả mẹ và trẻ sơ sinh [2].
Các biến thể di truyền, chẳng hạn như đột biến ở gen methylenetetrahydrofolate reductase (MTHFR), có thể làm suy giảm chức năng chuyển hóa và tình trạng folate nội sinh [2]. Điều này khiến nhu cầu hấp thu folate từ các nguồn cung cấp bên ngoài trở nên đặc biệt quan trọng để bảo vệ tế bào phôi thai đang phân chia.
Kể từ những năm 1980, các chuyên gia y tế đã khuyến cáo phụ nữ có kế hoạch mang thai và thai phụ trong 3 tháng đầu thai kỳ nên bổ sung acid folic [1]. Khuyến nghị này xuất phát từ các bằng chứng khẳng định việc bổ sung acid folic quanh thời điểm thụ thai có thể giảm thiểu nguy cơ khuyết tật ống thần kinh (NTDs) [1].
Nhiều quốc gia sau đó đã triển khai các chương trình tăng cường acid folic vào thực phẩm quy mô lớn [1]. Việc tăng lượng acid folic nạp vào ở cấp độ toàn dân số này đã dẫn đến việc giảm đáng kể tỷ lệ mắc dị tật ống thần kinh ở trẻ sơ sinh [1].
Thực trạng thiếu hụt folate qua các nghiên cứu quốc tế
Mặc dù vai trò của vi chất này đã rõ ràng, tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ vẫn diễn ra phổ biến trên thế giới. Báo cáo Dinh dưỡng và Sức khỏe Châu Âu năm 2009 chỉ ra rằng phụ nữ độ tuổi sinh sản tiêu thụ ít năng lượng, chất xơ và các vi chất như folate, sắt, vitamin D, trong khi lại tiêu thụ nhiều chất béo bão hòa [2].
Báo cáo năm 2009 này cũng kết luận lượng folate và vitamin D lấy từ thực phẩm tự nhiên thường không đủ đáp ứng nhu cầu gia tăng trong thai kỳ, đòi hỏi việc dùng viên uống bổ sung trước và trong khi mang thai [2]. Một nghiên cứu năm 2014 tại Thụy Điển ghi nhận mức tiêu thụ folate trung bình ở phụ nữ mang thai giai đoạn sớm chỉ dưới 300 microgam/ngày, xấp xỉ mức 247 microgam/ngày ở nhóm phụ nữ 31-44 tuổi [2].
Tại Bồ Đào Nha, một nghiên cứu theo dõi năm 2009 trên 249 thai phụ dưới 13 tuần tuổi thai tại hai bệnh viện công ở Porto cho thấy tỷ lệ thiếu hụt vi chất trong chế độ ăn rất cao [3]. Tỷ lệ không đáp ứng đủ nhu cầu trước mang thai là 58% đối với folate, 83% đối với vitamin E và 19% đối với magie [3].
Trong suốt thai kỳ, tỷ lệ thiếu hụt dinh dưỡng qua chế độ ăn tại Bồ Đào Nha tăng vọt lên 91% đối với folate, 88% đối với sắt, 73% đối với vitamin E và 21% đối với magie [3]. Mặc dù 97% phụ nữ có sử dụng thực phẩm bổ sung acid folic trong tam cá nguyệt đầu, độ tuổi thai trung vị khi bắt đầu uống lại là 6,5 tuần (khoảng tứ phân vị từ 5 đến 9 tuần), thời điểm có thể đã muộn để ngăn ngừa triệt để dị tật ống thần kinh [3].
Tình trạng tương tự cũng xuất hiện tại Hà Lan thông qua nghiên cứu GLIMP2 công bố năm 2018 trên 66 phụ nữ từ 18 đến 40 tuổi đang chuẩn bị mang thai [4]. Có tới 50% phụ nữ không đạt lượng folate khuyến nghị của Hà Lan, 67% thiếu vitamin D và 52% thiếu hụt axit béo EPA+DHA [4].
Phân tích máu từ nghiên cứu GLIMP2 cho thấy 14% phụ nữ bị thiếu folate huyết tương và 23% thiếu hụt vitamin D [4]. Rau củ là nguồn đóng góp chính cho folate từ chế độ ăn chiếm 25%, trong khi dầu mỡ đóng góp 39% vitamin D và cá đóng góp 69% EPA+DHA [4].
Ở quy mô lớn hơn, Nghiên cứu Đoàn hệ Mẹ và Con Na Uy (MoBa) công bố năm 2008 trên 40.108 phụ nữ thu thập từ năm 2002 đến 2005 cho thấy 81% thai phụ dùng một hoặc nhiều loại viên uống bổ sung [5]. Chế phẩm bổ sung phổ biến nhất là dầu gan tuyết hoặc dầu cá chiếm 59%, tiếp theo là viên acid folic đơn chất chiếm 36% và đa vi chất chiếm 31% [5].
Thực phẩm bổ sung đóng góp tới 65% tổng lượng folate và vitamin D nạp vào ở nhóm người có sử dụng tại Na Uy [5]. Tuy vậy, lượng vi chất lấy thuần túy từ thực phẩm như vitamin D, folate, i-ốt và sắt vẫn không đạt được Khuyến nghị Bắc Âu dành cho phụ nữ mang thai [5].
Lợi ích của folate đối với bệnh tim bẩm sinh và bạch cầu cấp
Việc đảm bảo đủ lượng folate trong thai kỳ mang lại lợi ích phòng ngừa nhiều dị tật và bệnh lý nghiêm trọng ở thế hệ sau. Một nghiên cứu bệnh - chứng năm 2021 tại tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, áp dụng phương pháp ghép điểm xu hướng tỷ lệ 1:2 ghép 396 ca bệnh với 792 ca đối chứng từ tổng số 760 ca bệnh và 1600 ca đối chứng ban đầu [6].
Kết quả cho thấy mức tiêu thụ folate và vitamin B12 cao hơn từ chế độ ăn cũng như tổng lượng nạp vào có liên quan đến việc giảm nguy cơ dị tật tim bẩm sinh (CHDs) ở trẻ sơ sinh [6]. Việc dùng viên bổ sung chứa acid folic kết hợp vitamin B6 và B12 giúp giảm nguy cơ với tỷ số chênh OR 0,61 (khoảng tin cậy 95% CI 0,40-0,94) [6].
Riêng việc sử dụng viên bổ sung acid folic trong suốt thai kỳ đạt OR 0,70 (95% CI 0,50-0,98) và dùng trong 3 tháng đầu thai kỳ đạt OR 0,62 (95% CI 0,46-0,85) đối với nguy cơ tim bẩm sinh [6]. Nghiên cứu này khẳng định lợi ích trực tiếp của việc can thiệp vi chất sớm đối với cấu trúc tim thai [6].
Bên cạnh đó, nghiên cứu công bố năm 2012 điều tra lượng tiêu thụ folate, vitamin B6 và B12 trong 6 tháng cuối thai kỳ trên 333 ca bệnh và 695 ca đối chứng [7]. Kết quả cho thấy lượng folate và B12 trong chế độ ăn của người mẹ cao hơn có mối liên quan nghịch với nguy cơ mắc bệnh bạch cầu lympho cấp tính (ALL) ở trẻ nhỏ [7].
Tác dụng bảo vệ này thể hiện rõ ràng nhất ở những người mẹ có sử dụng rượu bia trong thời gian mang thai [7]. Ngược lại, nồng độ vitamin B6 cao lại liên quan đến việc tăng nguy cơ ALL, tuy nhiên các tác giả nhận định đây có thể chỉ là một phát hiện ngẫu nhiên [7].
Hiểu lầm thường gặp và rủi ro từ vitamin A dạng retinol
Gan động vật là thực phẩm đứng đầu về mật độ dinh dưỡng, từng được xem là phương thuốc cứu cánh cho bệnh nhân thiếu máu ác tính ở thế kỷ trước [1]. Tuy nhiên, quan niệm cho rằng "ăn càng nhiều gan càng tốt để nạp folate" là một sai lầm nguy hại đối với phụ nữ chuẩn bị mang thai và đang mang thai.
Thực tế, gan là nơi tích trữ chính của vitamin A dạng hoạt động (retinol) ở động vật. Phụ nữ mang thai dung nạp quá nhiều retinol liều cao có thể dẫn đến nguy cơ dị tật thai nhi bẩm sinh nghiêm trọng ở hệ thần kinh và tim mạch. Do đó, dù cung cấp lượng folate đáng kể, việc lạm dụng gan động vật để bù đắp vi chất bị giới hạn nghiêm ngặt bởi ngưỡng an toàn của retinol.
Một hiểu lầm khác là việc đánh đồng giữa folate tự nhiên trong thực phẩm và acid folic tổng hợp trong dược phẩm. Folate tự nhiên không ghi nhận tác dụng phụ nào khi tiêu thụ qua đường ăn uống trong ngưỡng khuyến nghị [1].
Ngược lại, acid folic liều cao nhân tạo có thể làm tăng nguy cơ phát triển hoặc tiến triển ung thư ở những người có tổn thương tiền ung thư dưới một số điều kiện nhất định, sau thời kỳ bùng nổ các chương trình tăng cường vi chất tại Mỹ và Canada [1]. Mối liên hệ giữa việc nạp folate tổng hợp và ung thư vẫn là vấn đề phức tạp, đòi hỏi việc kiểm soát liều lượng từ viên uống một cách cẩn trọng [1].
Ai nên thận trọng khi lựa chọn nguồn bổ sung folate?
Phụ nữ mang thai trong tam cá nguyệt đầu tiên là nhóm đối tượng hàng đầu cần đặc biệt thận trọng với gan động vật. Giai đoạn này là thời điểm cơ quan của thai nhi hình thành, việc tiếp xúc với lượng lớn retinol từ gan có thể gây độc cho phôi mầm.
Nhóm người có tiền sử mang tổn thương tiền ung thư đại trực tràng cần tránh tự ý bổ sung acid folic tổng hợp liều cao vượt mức khuyến nghị [1]. Những người có biến thể gen suy giảm chuyển hóa folate MTHFR cũng cần tham khảo ý kiến chuyên gia y tế để có phương án bổ sung tương thích thay vì tự ý ăn nhiều nội tạng [2].
Bất kỳ ai đang mắc các bệnh lý gan mật, rối loạn chuyển hóa sắt hoặc mỡ máu cũng cần tránh dùng gan thường xuyên do hàm lượng cholesterol và sắt dự trữ rất cao. Mọi can thiệp bằng viên uống vi chất đơn lẻ hay đa vi chất đều cần có sự hướng dẫn chuyên môn từ bác sĩ điều trị.
Hướng dẫn bổ sung folate an toàn và hiệu quả
Để nạp folate lành mạnh mà không sợ nguy cơ dư thừa vitamin A dạng retinol, thai phụ nên ưu tiên nguồn rau xanh và chế độ ăn cân đối. Một nghiên cứu tiến cứu năm 2001 trên 109 phụ nữ so sánh giữa chế độ ăn trung bình kiểu phương Tây và ăn nhiều rau dài hạn (trung bình 8 năm) chia thành nhóm ăn chay trứng - sữa (27 người), ăn ít thịt (43 người) và nhóm đối chứng (39 người) [8].
Nghiên cứu tiến hành đo nồng độ folate huyết tương và hồng cầu tại các tuần thứ 9-12, 20-22 và 36-38 của thai kỳ [8]. Kết quả cho thấy nhóm ăn chay trứng - sữa và nhóm ăn ít thịt có nồng độ folate huyết tương cũng như hồng cầu cao hơn hẳn nhóm đối chứng [8].
Tỷ số chênh mắc tình trạng thiếu hụt folate (folate hồng cầu < 320 nmol/L) ở nhóm ăn chay trứng - sữa là 0,10 (95% CI 0,01-0,56) và ở nhóm ăn ít thịt là 0,52 (95% CI 0,20-1,34) [8]. Nồng độ folate hồng cầu ở nhóm ăn thực vật này cũng tương quan thuận với lượng vitamin B12 nạp vào cơ thể [8].
Để thực hành dinh dưỡng đúng cách, phụ nữ nên kết hợp đa dạng các loại rau lá xanh thẫm, các loại đậu, trái cây cùng nguồn đạm lành mạnh [4, 6]. Nếu muốn ăn gan động vật, chỉ nên ăn với tần suất rất thấp (khoảng 1 lần mỗi vài tuần với lượng nhỏ dưới 50g), hoặc thay thế hoàn toàn bằng nguồn rau củ giàu folate để loại bỏ nguy cơ ngộ độc retinol.
Việc uống bổ sung acid folic nên được chuẩn bị từ trước khi thụ thai thay vì đợi đến khi phát hiện có thai ở tuần thứ 6 hay tuần thứ 9 [3]. Sự kết hợp giữa acid folic và vitamin B12 cần được duy trì để tối ưu hóa quá trình tạo máu và bảo vệ hình thái tim thai [7, 8].
Folate là dưỡng chất sống còn bảo vệ thai nhi khỏi các nguy cơ dị tật ống thần kinh và tim bẩm sinh nghiêm trọng. Dù gan động vật giàu folate, rủi ro ngộ độc retinol đòi hỏi phụ nữ phải kiểm soát chặt chẽ lượng dùng hoặc thay thế bằng rau xanh và viên uống bổ sung theo chỉ dẫn y khoa.




