Sơ ri là loại trái cây nhiệt đới nổi tiếng với vị chua ngọt thanh mát và hàm lượng vitamin C dồi dào bậc nhất. Nhiều người có thói quen ăn hàng bát sơ ri mỗi ngày hoặc ép nước uống liên tục với mong muốn tăng sức đề kháng và làm đẹp da. Tuy nhiên, mối lo ngại về việc nạp lượng lớn vitamin C tự nhiên từ sơ ri có thể làm lắng đọng tinh thể và gây sỏi thận đang khiến không ít người băn khoăn.

Thực tế, việc ăn quá nhiều sơ ri hoàn toàn có thể làm tăng nguy cơ tạo sỏi thận chứa canxi oxalat do cơ thể chuyển hóa lượng lớn axit ascorbic thành oxalat [1], [2]. Mặc dù vitamin C tự nhiên rất tốt cho sức khỏe, nhưng khi dung nạp vượt quá mức cần thiết, oxalat dư thừa đào thải qua đường tiết niệu sẽ làm tăng độ bão hòa nước tiểu, từ đó hình thành các tinh thể sỏi [2], [3]. Những người có tiền sử sỏi thận hoặc bệnh lý đường tiêu hóa cần đặc biệt chú ý kiểm soát lượng dùng loại quả này [1], [4].

Cơ chế tạo sỏi khi cơ thể nhận quá nhiều axit ascorbic

Khoảng 70% đến 80% các loại sỏi thận được hình thành là sỏi chứa oxalat [5]. Oxalat trong nước tiểu có nguồn gốc gần như tương đương từ chế độ ăn uống hàng ngày và quá trình cơ thể tự tổng hợp nội sinh, chủ yếu diễn ra tại gan [5]. Axit ascorbic (vitamin C) chính là một trong những tiền chất chuyển hóa quan trọng tạo nên oxalat nội sinh bên trong cơ thể [6], [3].

Khi chúng ta tiêu thụ lượng lớn sơ ri, lượng axit ascorbic dư thừa sẽ đi vào chu trình thoái hóa sinh học [6]. Sự gia tăng nồng độ axit ascorbic thúc đẩy quá trình tổng hợp oxalat nội sinh và làm tăng lượng oxalat bài tiết qua nước tiểu [1]. Ngay cả sự gia tăng rất nhỏ của oxalat trong nước tiểu cũng có tác động đáng kể đến mức độ bão hòa của muối canxi oxalat [3]. Một phân tích từ ba nhóm nghiên cứu dịch tễ học lớn cho thấy lượng oxalat bài tiết hàng ngày chỉ cần tăng thêm 4 mg/ngày đã có thể làm tăng nguy cơ mắc sỏi thận mới từ 60% đến 100% [5]. Khi lượng oxalat bài tiết tăng gấp đôi từ 20 lên 40 mg/ngày (ngưỡng xác định tăng oxalat niệu ở người lớn), nguy cơ tương đối hình thành sỏi thận sẽ tăng khoảng 2,5 đến 3,5 lần [5].

Các nghiên cứu lâm sàng nói gì về liều cao vitamin C

Tác động của việc bổ sung hàm lượng cao axit ascorbic đã được kiểm chứng rõ nét qua nhiều công trình nghiên cứu can thiệp. Một nghiên cứu kiểm soát chế độ ăn thực hiện trên 29 người có tiền sử tạo sỏi canxi oxalat (19 nam, 10 nữ) và 19 người chưa từng bị sỏi (8 nam, 11 nữ) trong hai đợt thử nghiệm kéo dài 6 ngày: bổ sung 2 g axit ascorbic mỗi ngày và không bổ sung [1]. Vào sáng ngày thứ 6, người tham gia được nạp tải oxalat gồm 118 mg oxalat thường và 18 mg axit oxalic đánh dấu đồng vị 13C2 [1]. Kết quả cho thấy tỷ lệ hấp thu 13C2-oxalic acid ở nhóm từng bị sỏi cao hơn đáng kể (9,9%) so với nhóm không bị sỏi (8,0%) [1]. Đồng thời, nhóm có tiền sử sỏi có mức tổng oxalat và oxalat nội sinh trong nước tiểu 24 giờ sau nạp tải cao hơn rõ rệt ở cả hai đợt [1]. Tổng oxalat niệu 24 giờ tương quan rất chặt chẽ với cả mức hấp thu oxalat (r = 0,76 ở người có sỏi; r = 0,62 ở người không sỏi) và quá trình tổng hợp oxalat nội sinh (r = 0,95 ở người có sỏi; r = 0,92 ở người không sỏi) [1]. Bổ sung axit ascorbic làm tăng tổng oxalat và oxalat nội sinh, cho thấy đây là yếu tố nguy cơ lớn với người có cơ địa sỏi [1].

Một nghiên cứu bệnh chứng trên 186 bệnh nhân sỏi canxi oxalat cũng ghi nhận mối liên quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa lượng axit ascorbic nạp vào qua chế độ ăn và sự bài tiết oxalat qua đường tiểu [4]. Mối liên quan này cũng được ghi nhận ở nhiều nghiên cứu đoàn hệ lớn [4]. Thậm chí, một nghiên cứu có đối chứng về chế độ ăn ghi nhận lượng oxalat niệu tăng rõ rệt ở cả bệnh nhân sỏi canxi oxalat lẫn người đối chứng khỏe mạnh sau khi uống bổ sung 2 g axit ascorbic mỗi ngày [4].

Hậu quả của việc dùng liều cực lớn axit ascorbic còn được mô tả qua một nghiên cứu lâm sàng năm 1998 trên một nam giới dùng vitamin C liều cao trong 8 ngày liên tục [2]. Sau giai đoạn dùng liều cao, người này xuất hiện tình trạng đái máu và tinh thể canxi oxalat niệu [2]. Kết quả đo lường nước tiểu 24 giờ cho thấy mức bài tiết oxalat đã tăng vọt khoảng 350% trong thời gian nạp axit ascorbic trước khi xuất hiện đái máu [2]. Độ siêu bão hòa canxi oxalat và chỉ số nguy cơ Tiselius đều tăng lên, đồng thời kính hiển vi điện tử quét phát hiện các khối tinh thể canxi oxalat dihydrat kết tụ lớn ngay sau khi phát hiện tiểu máu [2]. Sự chuyển đổi chuyển hóa tỷ lệ cao từ axit ascorbic thành oxalat đã gây ra tình trạng tăng oxalat niệu tương đối và tinh thể niệu nghiêm trọng [2].

Mặt khác, dạng dùng của vitamin C cũng có thể ảnh hưởng đến mức oxalat. Một thử nghiệm mù đôi ngẫu nhiên có bắt chéo năm 2009 so sánh hai công thức vitamin C cho thấy dạng vitamin C kết hợp chất chuyển hóa (Ester-C) làm giảm đáng kể mức oxalat niệu so với dạng axit ascorbic thông thường, dù cơ chế này cần thêm đánh giá lâm sàng [7].

Lợi ích và giới hạn từ các bằng chứng khoa học

Các bằng chứng khoa học hiện tại đã chứng minh rất rõ ràng rằng tiêu thụ lượng lớn axit ascorbic dẫn đến tăng tổng hợp oxalat nội sinh và tăng đào thải oxalat qua thận, tạo điều kiện thuận lợi để muối canxi oxalat kết tinh [1], [4], [2], [3]. Mức bài tiết oxalat tăng cao không chỉ gây sỏi mà gần đây còn được chứng minh có tương quan thuận với sự tiến triển của bệnh thận mạn tính [5].

Tuy nhiên, các dữ liệu lâm sàng hiện có chủ yếu tập trung vào việc bổ sung axit ascorbic liều cao dạng đơn chất hoặc viên uống bổ sung (chẳng hạn mức 2 g/ngày hoặc megadose trong nhiều ngày) [1], [4], [2]. Chưa có thử nghiệm lâm sàng can thiệp trực tiếp đánh giá riêng việc ăn quả sơ ri tươi với số lượng cụ thể và nguy cơ sỏi niệu trên người. Mặc dù vậy, sơ ri tự nhiên chứa hàm lượng axit ascorbic rất cao, nên việc ăn mất kiểm soát một lượng lớn sơ ri trong thời gian dài hoàn toàn có thể đưa lượng axit ascorbic vào cơ thể tương đương các mức liều gây nguy cơ trong nghiên cứu [1], [2].

Những hiểu lầm thường gặp về vitamin C tự nhiên từ sơ ri

Nhiều người lầm tưởng rằng vitamin C tự nhiên từ hoa quả như sơ ri là hoàn toàn lành tính, ăn bao nhiêu cơ thể cũng tự đào thải hết mà không gây hại. Dù đúng là lượng vitamin C dư thừa sẽ được bài tiết qua nước tiểu, nhưng con đường thoái hóa của nó lại trực tiếp sản sinh ra oxalat [1], [6], [2]. Khi lượng oxalat này tích tụ vượt ngưỡng bão hòa trong nước tiểu, nguy cơ kết tủa thành sỏi thận là điều khó tránh khỏi [2], [3].

Hiểu lầm thứ hai là sỏi thận chỉ hình thành do ăn các thực phẩm giàu oxalat sẵn có từ bên ngoài. Thực tế, oxalat trong nước tiểu còn đến từ quá trình dị hóa axit ascorbic và chuyển hóa một số axit amin bên trong cơ thể [6]. Ngoài ra, chế độ ăn nhiều hydroxyproline (thường có trong collagen hoặc gelatin) cũng đóng góp ít nhất 15% vào lượng oxalat bài tiết qua nước tiểu ở người khỏe mạnh và có thể là nguồn tạo oxalat chính ở người bệnh tăng oxalat niệu nguyên phát [4]. Do đó, dù thực phẩm nạp vào không chứa sẵn oxalat, việc nạp quá nhiều tiền chất chuyển hóa như axit ascorbic từ sơ ri vẫn làm tăng lượng oxalat niệu [1], [3].

Nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Những người từng mắc sỏi thận hoặc có cơ địa dễ tạo sỏi canxi oxalat phải hết sức lưu ý. Dữ liệu cho thấy nhóm người từng tạo sỏi có tỷ lệ hấp thu oxalat trung bình (9,9%) và tốc độ tổng hợp oxalat nội sinh cao hơn hẳn so với người bình thường (8,0%), khiến việc dung nạp nhiều axit ascorbic trở thành một yếu tố nguy cơ rất lớn [1]. Một nghiên cứu khác chuẩn hóa với đồng vị [13C2]oxalat trên 120 bệnh nhân sỏi canxi oxalat vô căn và 120 người khỏe mạnh cũng chứng minh mức hấp thu oxalat ruột ở người bị sỏi cao hơn rõ rệt (10,2% so với 8,0%), trong đó tình trạng tăng hấp thu qua ruột (trên 10%) xuất hiện ở 46% bệnh nhân sỏi và 28% người khỏe mạnh [4].

Người mắc các bệnh lý đường ruột, bệnh viêm ruột hoặc từng phẫu thuật cắt dạ dày giảm béo cũng cần thận trọng [6], [8]. Bệnh đường ruột làm thay đổi quá trình chuyển hóa oxalat, canxi và axit uric [6]. Ở bệnh nhân rối loạn hấp thu chất béo, các axit béo không được hấp thu sẽ liên kết với canxi, làm giảm nồng độ canxi tự do trong lòng ruột để tạo phức với oxalat, khiến tỷ lệ oxalat tự do không liên kết tăng lên và được đại tràng hấp thu ồ ạt vào máu rồi đào thải qua thận [4], [8]. Tình trạng tăng oxalat niệu do ruột này có thể âm thầm phá hủy chức năng thận và tạo sỏi niệu [8].

Hướng dẫn áp dụng thực tế an toàn

Để thưởng thức sơ ri mà không lo ngại nguy cơ tạo sỏi thận, việc kiểm soát khẩu phần là yếu tố cốt lõi:

  • Thưởng thức với lượng vừa phải: Không nên coi sơ ri như một loại quả giải khát để ăn liên tục hàng ngày với số lượng lớn. Thay vì ép nước nguyên chất nhiều quả một lúc, bạn nên ăn quả tươi rải rác và thay đổi đa dạng cùng nhiều loại trái cây khác. Do chưa có số liệu nghiên cứu ấn định mức ăn sơ ri cụ thể hàng ngày, người tiêu dùng chỉ nên duy trì mức ăn vừa phải và tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên gia dinh dưỡng khi cần điều chỉnh khẩu phần.
  • Uống đủ nước mỗi ngày: Đảm bảo lượng nước vào cơ thể để duy trì thể tích nước tiểu đầy đủ, giúp pha loãng các chất hòa tan và giảm mức độ siêu bão hòa của tinh thể canxi oxalat trong đường tiết niệu [6], [8], [5]. Nước tiểu bị cô đặc có tính axit là môi trường thuận lợi để kết tinh sỏi [6].
  • Đảm bảo đủ lượng canxi trong bữa ăn: Lượng oxalat được hấp thu qua ruột chịu ảnh hưởng mạnh bởi các thành phần trong chế độ ăn, đặc biệt là lượng canxi [4]. Cung cấp đủ canxi qua chế độ ăn giúp canxi liên kết với oxalat ngay trong lòng ruột tạo thành phức hợp không tan đào thải qua phân, giảm bớt lượng oxalat tự do ngấm vào máu [4], [8]. Đối với người bị tăng oxalat niệu, chế độ ăn nên ít chất béo, hạn chế oxalat và bổ sung đủ canxi [6], [8].

Việc thưởng thức quả sơ ri tươi đem lại nhiều giá trị dinh dưỡng, nhưng lạm dụng quá mức sẽ biến lượng axit ascorbic dồi dào thành gánh nặng oxalat cho thận. Hãy xây dựng thói quen ăn uống cân bằng, đa dạng thực phẩm và uống đủ nước để bảo vệ hệ tiết niệu luôn khỏe mạnh. Nếu bạn có tiền sử bệnh sỏi thận hoặc bệnh lý đường tiêu hóa, hãy trao đổi trực tiếp với bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn chế độ ăn phù hợp nhất.