Nhiều người có thói quen hãm dược liệu khô uống thay nước mỗi ngày nhằm thanh nhiệt, bảo vệ cơ thể. Với cây Ban tròn (các loài thuộc chi Hypericum), câu hỏi phổ biến là nên dùng dạng trà pha nước sôi hay dạng cao chiết rượu để lấy được nhiều hoạt chất nhất.
Câu trả lời phụ thuộc vào đặc tính hóa học của từng nhóm chất: dạng cao hoặc chiết xuất cồn thu được hàm lượng flavonoid vượt trội, trong khi dạng trà nước chỉ chiết tách hiệu quả một phần polyphenol phân cực [6, 7].
Hoạt chất trong Ban tròn tan ra sao trong từng dung môi?
Cây thuộc chi Ban (Hypericum) chứa các nhóm chất chuyển hóa thứ cấp quan trọng gồm polyphenol, flavonoid và phenolic acid [1, 3]. Đây là những chất tự nhiên có nhiều trong thân, lá, hoa, vỏ rễ thực vật, mang lại khả năng chống oxy hóa, kháng khuẩn và kháng viêm [1, 2, 3].
Các flavonoid tự do thường kém tan trong nước lạnh và tan hạn chế trong nước sôi do cấu trúc vòng thơm kém phân cực [1, 6]. Khi sử dụng dung môi cồn hữu cơ (ethanol hoặc methanol) hoặc hỗn hợp cồn - nước, độ hòa tan của nhóm flavonoid tăng lên đáng kể [6, 8]. Ngược lại, nước nóng chỉ hòa tan tốt các dạng hợp chất phân cực hơn như glycoside, tannin hoặc saponin tự do [4, 7].
Bằng chứng chiết xuất: Cồn hay nước tối ưu hơn?
Một nghiên cứu thực nghiệm năm 2008 khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất chiết xuất tổng flavonoid từ loài Hypericum perforatum L. [1]. Nghiên cứu tiến hành thiết kế trực giao nhằm đánh giá nồng độ ethanol, nhiệt độ, thời gian chiết và lượng dung môi tiêu hao [1]. Kết quả xác định thứ tự ảnh hưởng tới hiệu suất chiết flavonoid lần lượt là: nhiệt độ chiết, nồng độ ethanol, số lần chiết và lượng ethanol tiêu tốn [1]. Hàm lượng flavonoid đạt mức cao nhất khi sử dụng dung môi ethanol 60% gấp 10 lần thể tích dược liệu, chiết lặp lại 3 lần [1]. Điều này chứng minh hỗn hợp cồn - nước hòa tan flavonoid tốt hơn nước nguyên chất [1].
Nghiên cứu công bố năm 2024 trên loài Hypericum cordifolium Choisy so sánh khả năng chiết xuất của các dung môi khác nhau trên lá và thân [2]. Định lượng cho thấy dịch chiết methanol của lá thu được lượng flavonoid đạt 232,60 ± 10,52 mg CE/g cao chiết, trong khi dịch chiết cồn-nước 50% thu được 261,25 ± 1,66 mg GAE/g polyphenol [2]. Với thân cây, lượng flavonoid cao nhất cũng nằm ở dịch chiết cồn methanol với 155,12 ± 4,30 mg CE/g [2].
Dù vậy, dạng nước không phải hoàn toàn vô hiệu. Nghiên cứu năm 2020 đánh giá dịch chiết nước của Hypericum perforatum bằng phương pháp sắc ký lỏng ghép khối phổ (LC-ESI-MS/MS) cho thấy dịch chiết nước chứa lượng phenolic, flavonoid và saponin đáng kể [3]. Trong nước chiết phát hiện nhiều hợp chất như protocatechuic acid, vanillic acid, verbascoside, hesperidin, hyperoside, apigenin 7-hexoside và quercetin [3]. Nước chiết này cũng thể hiện hoạt tính chống oxy hóa qua các phép thử DPPH, ABTS, FRAP và ức chế các enzym acetylcholinesterase, butyrylcholinesterase, tyrosinase [3].
Hoạt tính sinh học của các hợp chất chiết xuất
Các hợp chất thu được từ các loài thuộc chi Ban tròn thể hiện nhiều tác động dược lý thông qua các thử nghiệm trong ống nghiệm và trên động vật [1, 2, 3].
Nghiên cứu năm 2015 trên phân đoạn tan trong ethyl acetate của Hypericum scabrum L. đã phân lập được 8 hợp chất phenolic tinh khiết: 3-8''-bisapigenin, quercetin, quercetin-3-O-alpha-l-arabinofuranoside, quercetin-3-O-alpha-l-rhamnoside, quercetin-3-O-beta-d-glucopyranoside, quercetin-3-O-beta-d-galactopyranoside, (-)-epicatechin và (+)-catechin [4]. Tổng hàm lượng polyphenol và flavonoid trong cao khô lần lượt là 0,107 mg/mg và 0,023 mg/mg [4]. Phép thử bắt gốc tự do DPPH cho thấy hoạt tính chống oxy hóa rất mạnh ở quercetin cùng các dẫn xuất glycoside của nó [4]. Đồng thời, các chất này ức chế enzyme Protein tyrosine phosphatase 1B (PTP-1B) với giá trị IC50 từ 1,57 đến 2,91 microM, cùng khả năng kháng khuẩn trung bình đối với Staphylococcus aureus, Escherichia coli và Candida albicans [4].
Khả năng kháng nấm cũng được ghi nhận trong nghiên cứu năm 2018 trên các loài Hypericum montanum, H. maculatum, H. hirsutum, H. hircinum và H. perforatum [5]. Cao chiết từ các loài này cho thấy hoạt tính kháng nấm mức độ vừa trên nấm lâm sàng Candida albicans (nồng độ ức chế 250-500 microg/ml) và hoạt tính tốt trên Candida lusitaniae (64-125 microg/ml) [5]. Cơ chế kháng nấm của các hợp chất phenol bao gồm việc làm bất hoạt sản sinh enzyme và ngăn cản hình thành màng sinh học biofilm [5].
Trên mô hình động vật, nghiên cứu năm 2006 thử nghiệm cao chiết Hypericum perforatum liều 30 mg/kg (pha trong 0,2 ml nước muối sinh lý, dùng đường uống) trên chuột nhắt CD bị viêm tụy cấp do tiêm cerulein [6]. Kết quả cho thấy dịch chiết làm giảm mức độ viêm tụy và tổn thương mô học, giảm biểu hiện phân tử bám dính ICAM-1, giảm tích tụ nitrotyrosine, PAR và giảm hoạt độ enzyme myeloperoxidase [6]. Đồng thời, cao chiết làm giảm tỷ lệ tử vong ở chuột sau 5 ngày theo dõi [6].
Tuy nhiên, các hoạt tính này chủ yếu ghi nhận từ dạng cao chiết hữu cơ hoặc chiết xuất tinh khiết liều cao, không đồng nghĩa việc uống trà hãm tại nhà sẽ đem lại hiệu quả dược lý tương tự [1, 3].
Hiểu lầm thường gặp về dạng trà và dạng cao
Nhiều người cho rằng uống trà dược liệu đậm đặc cũng thu được lợi ích như dùng cao cô đặc. Đây là quan niệm sai lầm về mặt chiết xuất hóa học. Nước sôi ở 100 độ C chỉ kéo được các chất tan trong nước; nhiều flavonoid kém tan nằm lại trong bã dược liệu và bị vứt bỏ [6, 8].
Một hiểu lầm khác là bộ phận nào của cây cũng có lượng hoạt chất như nhau. Nghiên cứu năm 2014 trên loài Hypericum attenuatum phân tích hàm lượng flavonoid toàn phần và rutin ở các bộ phận khác nhau [7]. Kết quả cho thấy ở cây hoang dại, hàm lượng flavonoid giảm dần theo thứ tự: lá > hoa > thân [7]. Ở cây trồng, thứ tự là lá > hoa > quả > thân [7]. Như vậy, nếu ấm trà hoặc mẻ cao chứa chủ yếu là cành, thân già thì lượng hoạt chất flavonoid thu được sẽ rất thấp so với dùng lá hoặc hoa [5, 8].
Cũng cần lưu ý rằng dịch chiết cồn tuy rút được nhiều chất hơn nhưng không phải lúc nào cũng an toàn hơn. Thử nghiệm năm 2001 trên ba loài Hypericum connatum, Hypericum caprifoliatum và Hypericum polyanthemum thử độc tính tế bào CRFK ở nồng độ 50-150 microg/ml [8]. Dịch chiết nước thô (chứa nhiều tannin) gây độc tế bào ở mọi nồng độ thử nghiệm, trong khi dịch chiết methanol hoặc dịch chiết nước loại bớt tannin ít độc hơn hoặc cho phép tế bào phát triển tới 80% [8].
Ai nên thận trọng khi sử dụng?
Người mắc bệnh gan, thận mạn tính cần thận trọng khi tự ý sử dụng các loại cao chiết đậm đặc từ chi Ban tròn, do các hợp chất chuyển hóa liều cao tạo gánh nặng chuyển hóa tại gan [8].
Người có đường tiêu hóa nhạy cảm, dễ cồn cào hoặc viêm loét dạ dày không nên dùng dịch hãm quá đặc khi bụng đói, vì hàm lượng tannin và polyphenol tự do có thể gây kích ứng niêm mạc đường tiêu hóa [8].
Phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ không nên tự ý dùng các chế phẩm cô đặc, cao cồn nếu chưa có chỉ định y khoa. Dược liệu tự nhiên không đồng nghĩa với vô hại, và các thử nghiệm độc tính tế bào cho thấy nồng độ cao của dịch chiết vẫn tiềm ẩn rủi ro sinh học [8]. Luôn tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị nếu đang dùng thuốc tây y để tránh tương tác chuyển hóa.
Cách áp dụng thực tế an toàn
Nếu mục đích là giải khát thường nhật, bổ sung nhẹ chất chống oxy hóa tự nhiên, dạng trà pha nước sôi là lựa chọn tiện dụng và dễ kiểm soát [3]. Khi pha trà, nên ưu tiên dùng phần lá và hoa khô thay vì thân cành để có nhiều flavonoid hơn [5, 8]. Hãm thảo mộc với nước sôi từ 10-15 phút, đậy kín nắp để hạn chế bay hơi các chất.
Nếu mục đích là thu nhận tối đa lượng flavonoid và polyphenol nhằm phục vụ hỗ trợ trị liệu, các dạng cao chiết tiêu chuẩn hóa (sử dụng dung môi cồn - nước thích hợp) đem lại hàm lượng hoạt chất cao hơn hẳn so với nước pha trà thông thường [6, 8]. Tuy nhiên, các dạng cao chiết cần được bào chế theo quy trình kiểm soát liều lượng nghiêm ngặt [1].
Dù chọn dạng trà hay dạng cao, người dùng cần coi thảo dược là biện pháp hỗ trợ lối sống, không thể thay thế phác đồ điều trị y khoa khi có bệnh lý. Lựa chọn nguồn dược liệu rõ xuất xứ, bảo quản nơi khô ráo, tránh nấm mốc để đảm bảo an toàn cho sức khỏe.




