Nhiều người chuyển sang chế độ ăn thực dưỡng hoặc thuần chay với mong muốn thanh lọc cơ thể và cải thiện sức khỏe toàn diện. Tuy nhiên, một quan niệm sai lầm phổ biến là chỉ cần dùng rong biển, nấm mốc hoặc tương lên men là có thể đáp ứng trọn vẹn nhu cầu vitamin B12 của cơ thể.

Thực tế y khoa chứng minh điều ngược lại: vitamin B12 là dưỡng chất mà nguồn thực vật tự nhiên không thể cung cấp dạng sinh khả dụng đầy đủ, khiến việc bổ sung vi chất này qua thực phẩm tăng cường hoặc viên uống trở thành yêu cầu bắt buộc đối với người theo đuổi chế độ ăn thực vật kéo dài [1].

Nguy cơ thiếu hụt vitamin B12 khi áp dụng thực dưỡng

Vitamin B12 (cobalamin) là một vitamin tan trong nước có cấu trúc hóa học phức tạp, giữ vai trò then chốt trong quá trình tổng hợp và sửa chữa DNA, cũng như điều hòa hoạt động của toàn bộ hệ thần kinh [2]. Nguồn cung cấp vi chất này trong tự nhiên truyền thống hầu như chỉ đến từ các loại thực phẩm có nguồn gốc động vật [2]. Do đó, tình trạng thiếu hụt vitamin B12 diễn ra rất phổ biến ở những người thực hành chế độ ăn nghiêng hẳn về thực vật, ngay cả đối với nhóm đối tượng có sử dụng thêm trứng hoặc sữa trong khẩu phần [1].

Tại sao các nguồn thực vật như tảo biển hay thực phẩm lên men không thể thay thế B12 nguồn gốc động vật? Một đánh giá năm 2024 chỉ ra rằng hàm lượng vitamin B12 trong các mẫu thực vật tự nhiên thường rất thấp và dễ bị can thiệp bởi tạp chất [2]. Dù các nguồn thực vật như tảo, nấm hoặc đậu lên men được kỳ vọng trở thành nguồn bổ sung, việc định lượng đòi hỏi các phương pháp phân tích có độ nhạy và tính đặc hiệu cao [2]. Hiện tại, các nguồn này chủ yếu đóng vai trò làm nguyên liệu nghiên cứu phát triển thực phẩm tăng cường vi chất nhằm ngừa thiếu hụt, chứ không thể phụ thuộc như nguồn thay thế độc lập [2].

Hậu quả nghiêm trọng nhất của sự thiếu hụt vitamin B12 là dẫn tới bệnh thiếu máu hồng cầu khổng lồ (megaloblastic anemia) và các bệnh lý thần kinh ngoại biên [1, 8]. Khi thiếu hụt kéo dài, cơ thể mất đi sự bảo vệ cơ bản đối với hệ thống tạo máu và cấu trúc dẫn truyền thần kinh trung ương lẫn ngoại biên [1].

Cơ chế tác động và hệ lụy tới hệ thần kinh

Cơ chế bệnh sinh chính của tổn thương thần kinh do thiếu hụt vitamin B12 nằm ở việc gián đoạn quá trình tổng hợp bao bọc dây thần kinh (bao myelin) [3]. Thiếu vitamin B12 làm khiếm khuyết quá trình tổng hợp và tái tạo myelin, trực tiếp dẫn đến tình trạng bệnh lý thần kinh ngoại vi [3]. Bệnh lý thần kinh dinh dưỡng ngoại biên này có thể gây tàn phế vĩnh viễn nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời [4].

Khi mức độ thiếu hụt trở nên trầm trọng, bệnh nhân có thể đối mặt với chứng thoái hóa phối hợp bán cấp ở cột sau và cột bên của tủy sống [5]. Tình trạng thoái hóa này biểu hiện lâm sàng qua các triệu chứng như dị cảm, mất điều hòa vận động, suy giảm cảm giác rung và cảm giác bản thể, yếu cơ tiến triển, co cứng và liệt hai chi dưới [5]. Đáng lưu ý, các tổn thương thần kinh này có thể trở thành vĩnh viễn tùy thuộc vào khoảng thời gian cơ thể bị bỏ đói vi chất B12 [5].

Ngoài tủy sống, hệ thống thị giác cũng có thể bị ảnh hưởng trực tiếp. Tình trạng thiếu hụt B12 qua chế độ ăn được ghi nhận là nguyên nhân dẫn đến bệnh lý thần kinh thị giác một phần có thể hồi phục, gây teo gai thị và làm suy giảm thị lực từ từ [6]. Vì vậy, việc lơ là bổ sung B12 không chỉ dừng lại ở vấn đề thiếu máu đơn thuần mà đe dọa trực tiếp đến cấu trúc thần kinh và thị giác [4, 6].

Các bằng chứng khoa học ghi nhận về thiếu hụt B12

Nghiên cứu khoa học đã ghi nhận rõ rệt tỷ lệ thiếu hụt cũng như các biểu hiện suy giảm chức năng thể chất ở nhóm người ăn chay:

Một nghiên cứu cắt ngang công bố năm 2023 thực hiện trên 38 người trưởng thành khỏe mạnh (độ tuổi 19-40), những người duy trì chế độ ăn chay hoặc thuần chay hoàn toàn trong 3 năm [3]. Nghiên cứu đo lường nồng độ vitamin B12, folate huyết thanh bằng kỹ thuật miễn dịch phóng xạ chuẩn, kết hợp đo chức năng thần kinh ngoại biên thông qua bàn đo lực thăng bằng, máy kiểm tra độ nhạy rung và bài kiểm tra khéo léo của bàn tay [3]. Kết quả cho thấy 26% người tham gia có tình trạng thiếu hụt hoặc mấp mé thiếu vitamin B12 (nồng độ dưới 221 pmol/L) [3]. Đáng chú ý, nhóm có đủ B12 đạt điểm kiểm tra độ khéo léo của tay lắp ráp bảng ghim Purdue cao hơn 10% và độ khéo léo chức năng của tay trái cao hơn 20% so với nhóm bị mấp mé hoặc thiếu hụt B12 [3]. Dù cỡ mẫu nghiên cứu còn nhỏ (38 người), phát hiện bước đầu này cho thấy bệnh lý thần kinh ngoại vi tiềm ẩn có thể xuất hiện ngay cả ở người trẻ tuổi chỉ sau vài năm ăn thực dưỡng [3].

Một nghiên cứu quan sát quy mô lớn năm 2018 đã phân tích dữ liệu hành vi tìm kiếm trên mạng của 8,5 triệu người tại Mỹ [5]. Nghiên cứu xem xét mối liên hệ giữa các lượt tìm kiếm thực phẩm và tình trạng đau mạn tính, rối loạn thần kinh [5]. Kết quả ghi nhận xu hướng tìm kiếm các thuật ngữ về rối loạn thần kinh tương quan rõ rệt với việc tìm kiếm các nhóm thực phẩm nghèo vitamin B12 [5]. Nhóm thuốc giảm đau phổ biến cũng tương quan mạnh với dự đoán về các truy vấn liên quan đến đau thần kinh dựa trên hàm lượng B12 trong thực phẩm [5]. Dữ liệu cho thấy mức hấp thu B12 thấp có thể liên quan đến một phổ rối loạn thần kinh rộng hơn nhiều so với ghi nhận lâm sàng thông thường [5].

Tác động lâu dài lên sự phát triển của trẻ nhỏ

Đối với trẻ em theo chế độ ăn macrobiotic (thực dưỡng), nguy cơ tổn thương não bộ còn nghiêm trọng hơn. Thiếu hụt vitamin B12 giai đoạn sơ sinh gây ra tình trạng chậm lớn và những biểu hiện thần kinh có thể không thể phục hồi [7].

Dữ liệu tại Hà Lan chỉ ra rằng trẻ sơ sinh được nuôi bằng chế độ ăn thực dưỡng (vốn nghèo vitamin B12) bị chậm phát triển vận động thô, chậm phát triển ngôn ngữ và lời nói so với trẻ ăn chế độ ăn đa dạng [7]. Khi bước vào tuổi vị thành niên, những đứa trẻ từng ăn thực dưỡng trong 6 năm đầu đời tiếp tục có kết quả kiểm tra nhận thức kém hơn so với nhóm đồng trang lứa được ăn chế độ bình thường, bất kể tình trạng B12 hiện tại của các em ra sao [7].

Ngoài ra, thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng tại Ấn Độ trên trẻ từ 6 đến 30 tháng tuổi cho thấy: nhóm trẻ được bổ sung liều lượng vitamin B12 và axit folic gấp đôi nhu cầu khuyến nghị hằng ngày trong 6 tháng đạt điểm đánh giá phát triển thần kinh cao hơn hẳn nhóm dùng giả dược [7]. Hiệu quả này ghi nhận rõ rệt nhất ở nhóm trẻ bị thấp còi hoặc trẻ dưới 2 tuổi [7]. Điều này khẳng định tầm quan trọng bất biến của B12 đối với não bộ đang trong giai đoạn hoàn thiện [7].

Hiểu lầm phổ biến và giới hạn của bằng chứng

Hiểu lầm tai hại nhất của người ăn thực dưỡng là tin rằng các triệu chứng suy nhược chỉ là biểu hiện "thải độc" cơ thể. Trên thực tế, suy giảm cảm giác rung, châm chích đầu ngón tay hay run yếu cơ là dấu hiệu của tổn thương sợi trục thần kinh [2, 7]. Bệnh cảnh tổn thương tủy sống và thần kinh ngoại biên kết hợp có thể hình thành âm thầm từ chế độ ăn thiếu hụt, biểu hiện qua rối loạn cảm giác nông - sâu, yếu cơ và dáng đi co cứng [8].

Về mặt y văn, các thử nghiệm lâm sàng cho thấy việc bổ sung kịp thời vitamin B12 đường tiêm bắp hoặc đường uống có thể đảo ngược phần lớn khiếm khuyết chức năng nếu được phát hiện sớm [6, 7]. Tuy nhiên, nếu chậm trễ kéo dài, một số triệu chứng thần kinh tủy sống hoặc khiếm khuyết nhận thức từ thời thơ ấu sẽ tồn tại vĩnh viễn [3, 4, 7].

Nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Các đối tượng sau đây bắt buộc phải kiểm tra và bổ sung vitamin B12 chặt chẽ:

  • Phụ nữ mang thai hoặc cho con bú ăn thực vật: Trẻ sơ sinh bú mẹ bị thiếu vi chất này sẽ đối diện nguy cơ suy giảm nhận thức vĩnh viễn [7].
  • Trẻ nhỏ và thanh thiếu niên: Giai đoạn hệ thần kinh và myelin đang phát triển mạnh mẽ [7].
  • Người ăn chay, thực dưỡng hoàn toàn trên 3 năm: Kho dự trữ B12 tại gan có thể cạn kiệt, tỷ lệ thiếu hụt lâm sàng có thể vượt 30% [3].
  • Người có hội chứng kém hấp thu, bệnh đường tiêu hóa hoặc sử dụng các chất gây độc thần kinh: Điển hình như viêm dạ dày hoặc lạm dụng khí cười nitrous oxide làm hủy hoại nồng độ B12 nhanh chóng [8].

Áp dụng thực tế cho người ăn thực vật

Để duy trì lối sống lành mạnh mà không tổn hại hệ thần kinh, người thực hành chế độ ăn thực dưỡng cần tuân thủ các bước:

  • Chủ động dùng viên uống bổ sung: Sử dụng các chế phẩm vitamin B12 dạng viên uống hoặc viên ngậm dưới lưỡi theo đúng hướng dẫn y tế để duy trì nồng độ huyết thanh ổn định [1, 2].
  • Ưu tiên thực phẩm tăng cường vi chất: Lựa chọn các sản phẩm hạt, ngũ cốc hoặc nấm men có tăng cường B12 công nghiệp, không phụ thuộc vào thực phẩm lên men thủ công [2].
  • Kiểm tra sức khỏe định kỳ: Xét nghiệm nồng độ vitamin B12 định kỳ trong các lần khám sức khỏe tổng quát để phát hiện tình trạng mấp mé thiếu hụt trước khi có biểu hiện tê bì tay chân [3].

Chế độ ăn dựa trên thực vật đem lại nhiều tác động tích cực nhưng không thể thay thế nhu cầu hóa sinh cơ bản của con người đối với vitamin B12 [1, 8]. Việc kết hợp lối sống thuần thực vật với viên uống bổ sung B12 là giải pháp khoa học, cân bằng và bảo vệ an toàn cho hệ thần kinh lâu dài. Khi có dấu hiệu tê bì hoặc bệnh nền tiêu hóa, người bệnh cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa ngay lập tức.