Nhiều người dù ăn uống đầy đủ hoặc tích cực bổ sung viên uống vi chất nhưng cơ thể vẫn xuất hiện các triệu chứng thiếu hụt vitamin mạn tính. Tình trạng mệt mỏi, khô da, giảm thị lực ban đêm hay suy giảm mật độ xương thường được đổ lỗi cho chất lượng thực phẩm. Tuy nhiên, nguyên nhân gốc rễ có thể nằm ở hệ tiêu hóa, cụ thể là sự thiếu hụt dịch mật cần thiết để vận chuyển dưỡng chất.
Cao mật bò, một dạng chiết xuất chứa các muối mật và axit mật tự nhiên, được quan tâm như một giải pháp hỗ trợ tiêu hóa. Về mặt sinh lý, câu trả lời là có: các thành phần axit mật có trong dịch mật động vật đóng vai trò trực tiếp trong việc tạo điều kiện cho cơ thể hấp thu các vitamin tan trong dầu gồm A, D, E và K [1], [2]. Khi lượng dịch mật nội sinh suy giảm, sự hỗ trợ từ muối mật ngoại sinh giúp khôi phục quá trình nhũ hóa lipid và hòa tan vi chất [1].
Cơ chế tác động của dịch mật đối với vitamin tan trong dầu
Vitamin tan trong chất béo (A, D, E, K) là nhóm dưỡng chất thiết yếu nhưng đường ruột không thể hấp thu trực tiếp chúng dưới dạng tự do như các vitamin tan trong nước [2], [3]. Các vitamin này chỉ được hấp thu hiệu quả qua niêm mạc ruột khi có sự hiện diện của dịch mật [2]. Axit mật hoạt động như một chất hoạt động bề mặt tự nhiên, làm nhiệm vụ nhũ hóa chất béo ở bề mặt tiếp xúc giữa nước và dầu [1].
Quá trình nhũ hóa giúp các enzyme tiêu hóa như lipase thủy phân chất béo giải phóng ra axit béo [1]. Hơn 90% vitamin A đưa vào cơ thể dưới dạng este retinyl (như retinyl palmitate), cần quá trình tiêu hóa lipid thích hợp để thủy phân thành retinol trước khi đi vào tuần hoàn [2]. Tương tự, vitamin D2 và D3 được hấp thu từ ruột non rồi xuất hiện trong hệ bạch huyết dưới dạng phức hợp lipoprotein chylomicron [2]. Trong dịch mật, axit deoxycholic là một trong những thành phần quan trọng nhất hỗ trợ đường ruột hấp thu tối ưu các dưỡng chất này [2]. Nếu không có dịch mật làm chất dẫn, các phân tử vitamin tan trong dầu sẽ bị đào thải ra ngoài theo phân [4].
Hệ quả nghiêm trọng khi đường tiêu hóa thiếu hụt dòng mật
Khi dòng chảy của mật vào ruột non bị gián đoạn, khả năng tiếp nhận vi chất dinh dưỡng của cơ thể lập tức bị đình trệ. Mối liên hệ này đã được ghi nhận rõ nét trong nhiều báo cáo y khoa thực hiện trên người bệnh suy giảm chức năng dẫn lưu mật [4], [5].
Một nghiên cứu thực hiện trên 11 bệnh nhân sau phẫu thuật cắt túi mật và thăm dò ống mật chủ có đặt ống dẫn lưu chữ T đã làm rõ hiện tượng này [4]. Khi ống dẫn lưu để hở cho mật chảy tự do ra ngoài, nồng độ vitamin A, vitamin E và triglyceride trong huyết thanh của 6 bệnh nhân không hề tăng lên sau bữa ăn thử nghiệm dạng lỏng [4]. Thậm chí, khi 3 người bệnh được cho uống liều cao 0,5 g DL alpha-tocopherol acetate mỗi ngày liên tục trong 4 ngày, nồng độ vitamin E lúc đói vẫn không tăng [4]. Đáng chú ý, 9 bệnh nhân được kiểm tra cho thấy vẫn hấp thu trên 70% chất béo ăn vào [4]. Chỉ khi kẹp ống dẫn lưu để tái lập dòng chảy của mật vào lòng ruột non, mọi chỉ số hấp thu vi chất mới trở lại bình thường [4].
Tình trạng tương tự cũng được ghi nhận ở trẻ em. Một nghiên cứu trên 17 trẻ bị tắc mật kiểm tra mức vitamin E huyết thanh sau các thử nghiệm dùng chế phẩm alpha-tocopheryl acetate tan trong dầu hoặc hòa tan trong nước [5]. Kết quả cho thấy khi đường mật bị tắc, trẻ bị khiếm khuyết nghiêm trọng trong việc hấp thu cả hai dạng chế phẩm qua đường ruột [5]. Tuy nhiên, ở 3 trẻ có tình trạng tắc mật dần hồi phục, khả năng hấp thu vitamin E đã cải thiện rõ rệt cùng sự trở lại của dịch mật [5].
Rối loạn không chỉ dừng ở tắc nghẽn cơ học. Nghiên cứu di truyền học báo cáo một nữ bệnh nhân 18 tuổi bị thiếu hụt nghiêm trọng và dai dẳng các vitamin A, D, E, K từ khi còn 10 tháng tuổi [6]. Phân tích giải trình tự exome phát hiện đột biến đồng hợp tử missense (Pro65Leu) ở gen SLC10A2 - gen mã hóa kênh vận chuyển axit mật tại hồi tràng [6]. Kết quả xạ hình đánh giá độ lưu giữ axit mật cho thấy cơ thể người bệnh chỉ giữ lại được 1,6% lượng axit mật sau 7 ngày uống, dẫn đến mất mật qua phân và cơ thể hoàn toàn không thể hấp thu bình thường các vitamin tan trong dầu [6].
Nghiên cứu thực nghiệm về vai trò của axit mật ngoại sinh
Để xác định xem axit mật ngoại sinh (tương tự thành phần trong cao mật bò) có trực tiếp thúc đẩy việc tận dụng vitamin tan trong dầu hay không, một thử nghiệm chuyên sâu đã được tiến hành vào năm 2022 [1]. Nghiên cứu tiến hành cả hai giai đoạn: mô phỏng ống nghiệm (in vitro) và thử nghiệm trên cơ thể sống (in vivo) [1].
Trong mô hình ống nghiệm, các axit mật thể hiện khả năng nhũ hóa mạnh mẽ bề mặt tiếp xúc dầu - nước, đồng thời thúc đẩy men lipase phân giải chất béo để giải phóng lượng lớn axit béo [1]. Mặc dù axit mật làm tăng tốc độ giải phóng cả ba loại vitamin A, D và E từ dầu thực vật, hiệu quả cải thiện tiêu hóa diễn ra rõ rệt nhất ở vitamin A [1].
Giai đoạn trên cơ thể sống được triển khai trên 450 con gà mái đẻ giống Hy-Line Gray 45 tuần tuổi trong vòng 84 ngày [1]. Gà được chọn vì chế độ ăn cơ bản của chúng vốn chứa rất ít chất béo (chỉ 3,23% chất béo thô), giúp kiểm chứng hiệu quả hấp thu vi chất mà không cần lượng mỡ nền cao [1]. Đàn gà được chia làm 5 nhóm với khẩu phần bổ sung axit mật theo các mức 0, 30, 60, 90 và 120 mg/kg [1].
Kết quả cho thấy nhóm dùng 60 mg/kg axit mật cải thiện rõ rệt hiệu suất đẻ trứng và tăng tổng số nang noãn buồng trứng ở các mức 30 và 60 mg/kg [1]. Cả tỷ lệ tận dụng chất béo thô lẫn tổng năng lượng của các nhóm bổ sung axit mật đều tăng cao [1]. Hoạt tính của lipase và lipoprotein lipase tại ruột non gia tăng đáng kể ở các nhóm nhận 60, 90 và 120 mg/kg [1]. Quan trọng nhất, hàm lượng vitamin A tích lũy trong gan và nồng độ vitamin A trong huyết thanh của nhóm dùng 60, 90 và 120 mg/kg đều tăng vọt so với nhóm đối chứng [1]. Bổ sung axit mật ở mức 90 và 120 mg/kg còn làm tăng kháng thể IgA huyết thanh, hạ chỉ số malondialdehyde và tăng cường hoạt tính chống oxy hóa glutathione peroxidase [1].
Mặt khác, các nghiên cứu năm 2024 trên chuột bị thắt ống mật cũng chỉ ra rằng việc kết hợp axit mật với các loại axit béo và monoglyceride phù hợp có thể làm thay đổi đáng kể lượng vi chất đi vào niêm mạc ruột [7]. Điển hình, các cấu trúc micelle phối hợp giúp tăng hàm lượng este retinyl và vitamin A tại niêm mạc lên tới 350% và vitamin E lên tới 62% [7].
Mối tương tác hai chiều giữa vitamin A, D và axit mật
Tác động giữa axit mật và các vitamin tan trong dầu không phải con đường một chiều. Chúng hình thành một mạng lưới điều hòa sinh học chéo vô cùng chặt chẽ trong cơ thể người và động vật có vú [3], [8]. Gan là cơ quan tổng hợp axit mật, đồng thời cũng là nơi lưu trữ chính của vitamin A, nơi các tế bào hình sao tích lũy este retinyl [8]. Khi mắc bệnh gan mạn tính, quá trình sản xuất mật suy giảm khiến các tế bào hình sao mất dần vitamin A và chuyển dạng thành nguyên bào sợi gây xơ gan, đẩy người bệnh vào vòng luẩn quẩn thiếu hụt vi chất [8].
Ngược lại, các nghiên cứu công bố năm 2010 phát hiện ra rằng chính vitamin A và vitamin D trong chế độ ăn có khả năng điều hòa ngược để ức chế gan tổng hợp axit mật [3]. Cụ thể, các thụ thể hạt nhân của vitamin A và vitamin D kích thích biểu hiện hormon Fgf15 ở ruột [3]. Hormon Fgf15 sau đó phát tín hiệu lên gan để ức chế enzyme giới hạn tốc độ tổng hợp axit mật là CYP7A1 [3]. Quá trình này giúp cơ thể tự cân chỉnh: nồng độ vi chất đầy đủ sẽ gửi tín hiệu kiểm soát lượng dịch mật sản sinh, ngăn ngừa tình trạng dư thừa muối mật [3].
Hiểu lầm thường gặp và giới hạn của bằng chứng
Một hiểu lầm phổ biến hiện nay là cho rằng người khỏe mạnh, ăn uống bình thường cũng cần uống cao mật bò để tăng cường hấp thu dưỡng chất. Trên thực tế, gan của một người có sức khỏe bình thường sản xuất đủ lượng dịch mật cần thiết để nhũ hóa lượng chất béo và vitamin dung nạp qua bữa ăn hàng ngày [2], [8]. Bổ sung axit mật ngoại sinh chỉ đem lại ý nghĩa rõ rệt ở những người có vấn đề về dòng mật, giảm tiết dịch mật hoặc kém hấp thu lipid [1], [4].
Giới hạn lớn hiện nay là phần lớn các thử nghiệm định lượng cụ thể về việc uống bổ sung axit mật đơn lẻ được tiến hành trên mô hình động vật như gia cầm hoặc chuột [1], [7]. Các bằng chứng kinh điển trên người chủ yếu quan sát hiện tượng thiếu hụt vi chất khi mất dòng mật ở bệnh nhân phẫu thuật hoặc bệnh nhi tắc mật bẩm sinh [4], [6], [5]. Do đó, người dùng không nên xem cao mật bò là thần dược có thể tự ý thay thế cho các can thiệp y tế chính thống.
Những ai cần thận trọng trước khi sử dụng?
Dù cao mật bò đem lại tiềm năng hỗ trợ tiêu hóa, việc sử dụng các chế phẩm chứa axit mật ngoại sinh cần hết sức cẩn trọng ở một số đối tượng:
- Người mắc bệnh gan tiến triển, viêm gan cấp hoặc suy gan nặng: Khả năng chuyển hóa và chu trình gan ruột của axit mật tại các cơ quan này đã bị tổn hại nặng nề [8].
- Bệnh nhân bị tắc nghẽn đường mật hoàn toàn do sỏi mật lớn hoặc khối u: Việc dùng thêm chế phẩm kích thích hoặc tăng lượng mật vào hệ thống đang bít tắc có thể gây biến chứng nguy hiểm [6], [5].
- Người gặp tình trạng viêm ruột, tiêu chảy mạn tính do kém hấp thu axit mật: Lượng axit mật dư thừa không được tái hấp thu ở đoạn cuối ruột non có thể đi xuống đại tràng gây kích ứng niêm mạc và làm trầm trọng thêm chứng tiêu chảy [6].
Người đang điều trị bệnh nền hoặc sử dụng các thuốc gắn axit mật như cholestyramine cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa trước khi dùng [3], [6].
Gợi ý áp dụng thực tế để tối ưu hấp thu vi chất
Đối với những người được bác sĩ chẩn đoán suy giảm tiết mật nhẹ, ăn khó tiêu mỡ hoặc người đã phẫu thuật cắt túi mật dẫn đến thiếu hụt mật cục bộ, việc ứng dụng cao mật bò có thể hỗ trợ đường ruột tiếp nhận vi chất tốt hơn [1], [4]:
- Thời điểm sử dụng: Nên dùng chế phẩm trong hoặc ngay sau bữa ăn có chứa chất béo. Axit mật cần có mặt đồng thời với thức ăn tại tá tràng để thực hiện nhiệm vụ nhũ hóa [1], [2].
- Kết hợp bữa ăn cân bằng: Không thể hấp thu vitamin A, D, E, K nếu chế độ ăn hoàn toàn kiêng chất béo. Dù có mặt axit mật, quá trình hòa tan vi chất vẫn đòi hỏi một tỷ lệ lipid nhất định từ dầu thực vật, mỡ cá hoặc các loại hạt để tạo thành các hạt micelle vận chuyển [1], [7].
- Theo dõi phản ứng tiêu hóa: Bắt đầu bằng liều thăm dò theo chỉ dẫn của thầy thuốc hoặc thông tin sản phẩm. Nếu xuất hiện dấu hiệu nóng rát dạ dày, buồn nôn hoặc đi ngoài phân lỏng, cần ngưng sử dụng và tái khám.
Cao mật bò cung cấp nguồn axit mật ngoại sinh quý giá, đóng vai trò bản lề giúp hòa tan và hấp thu các vitamin thiết yếu A, D, E, K đối với người suy giảm chức năng mật [1], [2]. Tuy nhiên, hoạt chất này hoạt động dựa trên các cơ chế chuyển hóa phức tạp tại gan và ruột [3], [8]. Người tiêu dùng không nên tự ý lạm dụng mà cần kết hợp chế độ ăn uống khoa học và lắng nghe tư vấn chuyên môn từ bác sĩ.


