Nhầm lẫn phổ biến giữa hai loại củ bồi bổ

Nhiều người tìm mua dược liệu bồi bổ cơ thể thường nghe nhắc củ tầm sét và sâm bố chính. Hai loại củ này hình thái rễ củ nạc phình to dưới đất dễ gây nhầm lẫn. Người mua dễ lầm tưởng công dụng hai củ giống nhau hoàn toàn.

Thực tế, củ tầm sét và sâm bố chính là hai loài khác biệt về nguồn gốc thực vật lẫn thành phần. Củ tầm sét tên dân gian của dây tầm sét, thuộc chi Khoai lang họ Bìm bìm. Sâm bố chính thuộc chi Vông vang họ Cẩm quỳ, có tên khoa học Abelmoschus sagittifolius.

Khác biệt bản chất loài dẫn đến tính chất bổ dưỡng và mục đích ứng dụng khác nhau. Dùng đúng mục tiêu cần hiểu rõ cấu trúc thực vật, cơ chế cũng như dữ liệu nghiên cứu sẵn có.

Bản chất sinh học và cơ chế tác động

Sâm bố chính từ lâu xếp nhóm dược liệu bổ khí, trợ lực nhờ hàm lượng lớn chất nhầy và hợp chất chuyển hóa. Củ sâm bố chính chứa chuỗi polysaccharide dồi dào, tạo độ nhớt tự nhiên khi nấu hoặc ngâm. Chất nhầy này tạo lớp màng bảo vệ niêm mạc đường tiêu hóa, hỗ trợ giảm kích ứng dạ dày.

Ngược lại, củ tầm sét thuộc nhóm dây leo họ Bìm bìm. Trong y học cổ truyền, củ tầm sét quy vào kinh tỳ vị, tính bình, thường dùng thanh nhiệt, giải độc và trục ứ. Thành phần củ tầm sét chủ yếu chứa tinh bột, chất xơ và một số glycoside thực vật.

Nhờ cấu trúc tinh bột dễ tiêu, tầm sét cung cấp năng lượng tức thời cho người mệt mỏi hoặc suy nhược nhẹ. Dược liệu này không thiên về sinh tân dịch làm mát sâu như độ nhầy của sâm bố chính. Việc phân biệt rõ đặc tính giúp tránh dùng sai mục đích thể trạng.

Nghiên cứu di truyền học lục lạp của sâm bố chính

Nghiên cứu công bố năm 2020 đi sâu phân tích hệ gene lục lạp của các loài thuộc chi Vông vang, bao gồm sâm bố chính (Abelmoschus sagittifolius) [1]. Công trình phân tích cấu trúc bộ gene, điểm đột biến và nhận diện các vị trí chỉnh sửa RNA dự đoán ở bốn loài thuộc chi này [1].

Phần mềm PREP dự đoán 55 vị trí chỉnh sửa RNA trên 24 gene ở Abelmoschus sagittifolius và Abelmoschus moschatus [1]. Con số này ở Abelmoschus manihot là 56 vị trí trên 24 gene, và ở Abelmoschus esculentus là 62 vị trí trên 24 gene [1]. Phần lớn các gene có vị trí chỉnh sửa RNA tương đồng, riêng gene clpP đặc trưng duy nhất cho cụm gồm sâm bố chính A. sagittifolius, A. moschatus và A. manihot [1]. Ngược lại, gene ycf3 chỉ ghi nhận riêng ở loài A. esculentus [1].

Số lượng vị trí chỉnh sửa RNA ghi nhận nhiều nhất ở gene ndhB với 12 vị trí, kế tiếp là ndhD với 7 vị trí, matK có 5 vị trí và petB có 5 vị trí [1]. Các gene ndhD, ndhA và matK ghi nhận biến thiên rộng giữa các loài [1]. Ở A. sagittifolius, A. moschatus và A. manihot, các nhà nghiên cứu tìm thấy 5 vị trí chỉnh sửa trên ndhD và 1 vị trí trên ndhA [1]. Trong khi đó, A. esculentus có 7 vị trí trên ndhD và 1 vị trí trên ndhA [1].

Phần lớn sự hoán đổi xảy ra tại nucleotide thứ nhất và thứ hai của bộ ba mã hóa, chủ yếu chuyển từ C/G sang A/T [1]. Sự thay đổi vị trí chỉnh sửa RNA tạo ra lượng lớn amino acid kỵ nước, đặc biệt là Leucine [1]. Số lượng Leucine đạt mức 29 ở sâm bố chính A. sagittifolius, A. moschatus và A. manihot, còn ở A. esculentus là 28 [1].

Phân tích trình tự lặp lại microsatellite (SSR) bằng phần mềm MISA ghi nhận A. sagittifolius chứa 350 đoạn SSR, bằng với A. moschatus (350 đoạn) [1]. Trong khi đó, A. manihot chứa 351 đoạn và A. esculentus chứa 344 đoạn SSR [1]. Đoạn lặp đơn nucleotide chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 60% tổng lượng SSR, kích thước dao động 8 đến 18 nucleotide [1]. Các đoạn lặp trinucleotide và dinucleotide chiếm khoảng 33% tổng số [1].

Hai loài A. moschatus và A. manihot không chứa đoạn lặp hexanucleotide [1]. Các đoạn A/T và AT/TA là dạng lặp phong phú nhất lần lượt ở nhóm đơn nucleotide và dinucleotide [1]. Xét theo phân vùng lục lạp, khoảng 67% đoạn lặp SSR nằm tại vùng bản sao đơn dài LSC, 13% tại vùng bản sao đơn ngắn SSC, và 19% tại vùng lặp nghịch đảo IR [1]. Vùng liên gene IGS là nơi chứa nhiều đoạn SSR nhất [1].

Giới hạn của bằng chứng khoa học hiện tại

Nghiên cứu năm 2020 tập trung hoàn toàn vào sinh học phân tử và hệ gene lục lạp thực vật [1]. Dữ liệu làm rõ vị trí phân loại học chính xác của sâm bố chính so với các cây cùng chi. Các chỉ số về biến nạp nucleotide hay tích lũy Leucine cung cấp căn cứ phân định mẫu gen thuần chủng [1].

Tuy nhiên, nghiên cứu lục lạp không trực tiếp đánh giá hoạt tính dược lý trên người hay động vật thử nghiệm. Số liệu về gene chưa giải thích trọn vẹn dược động học của củ khi tiêu hóa qua đường uống.

Đối với củ tầm sét, dữ liệu thử nghiệm lâm sàng hiện đại còn rất hạn chế. Phần lớn công dụng củ tầm sét vẫn dựa trên kinh nghiệm dân gian lưu truyền. Người dùng không nên đánh đồng phân tích gene thực vật với bằng chứng chữa trị lâm sàng.

Những hiểu lầm cần tránh khi dùng hai loại củ

Nhiều người tin rằng thảo dược tự nhiên cứ củ nào to nạc thì tính bổ tương đương nhân sâm. Đây là quan niệm sai lầm khiến việc bồi bổ không đem lại hiệu quả mong muốn. Sâm bố chính thiên về dưỡng âm, sinh tân dịch, phù hợp thể trạng gầy gò, háo khát hoặc ho khan kéo dài.

Củ tầm sét tính thanh lương giải độc, hỗ trợ tiêu hóa ứ trệ, không có tác dụng bồi bổ sinh lực tầng sâu. Dùng nhầm tầm sét thay cho sâm bố chính trong thang thuốc bổ khí huyết sẽ làm giảm hiệu quả bài thuốc.

Hiểu lầm khác là dùng liều càng cao càng nhanh khỏe. Cả hai loại thảo dược nếu nạp quá mức đều gây quá tải cho hệ tiêu hóa do hàm lượng tinh bột và chất nhầy cô đặc.

Ai nên thận trọng khi sử dụng?

Người có cơ địa tỳ vị hư hàn, hay đau bụng đi ngoài, phân lỏng nát cần cẩn trọng khi dùng sâm bố chính. Lượng chất nhầy lớn trong sâm bố chính có thể gây đầy trướng bụng, khó tiêu cho hệ tiêu hóa yếu.

Người thể hàn, sợ lạnh, huyết áp thấp không nên tự ý dùng nhiều củ tầm sét. Tính chất thanh nhiệt trục trệ của tầm sét dễ làm hạ nhiệt cơ thể, gây mệt mỏi thêm.

Phụ nữ có thai, người đang cho con bú và trẻ nhỏ không tự tiện sử dụng nước sắc hai loại củ này. Người đang điều trị bệnh mạn tính bằng thuốc tây cần hỏi ý kiến bác sĩ để tránh tương tác hấp thu ngoài ý muốn.

Áp dụng thực tế đúng cách và an toàn

Khi dùng sâm bố chính, người dùng nên rửa sạch lớp đất cát bám ngoài vỏ củ. Có thể thái lát mỏng phơi khô để sắc nước uống hoặc hầm cùng các món canh thanh đạm như gà, chim câu. Nấu chín kỹ giúp cấu trúc sợi và chuỗi tinh bột mềm hơn, dễ hấp thu dưỡng chất.

Củ tầm sét thường được thái mỏng, sao vàng hạ thổ trước khi phối hợp trong các bài thuốc dân gian. Cách chế biến này giúp giảm bớt tính hàn lạnh của dược liệu tươi.

Không dùng chung hai vị củ cùng lúc nếu chưa có hướng dẫn phối ngũ từ thầy thuốc chuyên khoa. Uống nước sắc thảo dược cách thời điểm dùng thuốc tây ít nhất hai giờ đồng hồ. Duy trì chế độ ăn đa dạng, uống đủ nước và ngủ đủ giấc vẫn là nền tảng bồi bổ quan trọng nhất.

Sâm bố chính và củ tầm sét là hai dược liệu khác nhau từ bản chất hệ gene cho tới công năng sử dụng [1]. Người tiêu dùng cần tỉnh táo nhận diện nguồn gốc, dùng đúng người đúng bệnh thay vì tin theo lời đồn thổi.