Nhiều người thường tin thảo dược tự nhiên luôn lành tính và an toàn tuyệt đối. Thói quen giã nát cây tươi đắp trị bệnh ngoài da hoặc sắc uống theo kinh nghiệm truyền miệng diễn ra phổ biến. Cây bạch hoa xà (tên khoa học Plumbago zeylanica) là ví dụ điển hình cho việc dùng sai cách dẫn tới nguy hại nghiêm trọng.

Bạch hoa xà chứa hàm lượng lớn hoạt chất plumbagin có dược tính mạnh nhưng đi kèm độc tính rất cao. Dùng dạng tươi giã đắp trực tiếp gây bỏng rát, viêm loét da; đường uống quá liều hoặc dùng kéo dài gây tổn thương trực tiếp lên gan, thận, tim, tuyến thượng thận và làm biến đổi tế bào máu.

Hoạt chất chính và cơ chế gây tổn thương mô

Rễ và các bộ phận của cây bạch hoa xà chứa plumbagin, một hợp chất thuộc nhóm naphtoquinone [1, 5, 8]. Khi hấp thu qua đường tiêu hóa hoặc tiếp xúc mô sống, plumbagin tác động trực tiếp lên cấu trúc tế bào [1, 5].

Ở nồng độ vượt ngưỡng an toàn, plumbagin gây độc trực tiếp cho ADN. Nghiên cứu thực nghiệm ghi nhận hoạt chất này kích hoạt tổn thương ADN ngay ở nồng độ cực thấp là 0,25 ng/ml [1]. Ngoài ra, chất này thúc đẩy tăng sinh các gốc oxy hóa phản ứng (ROS) làm tổn hại tế bào [2]. Các phản ứng oxy hóa phá vỡ màng tế bào, dẫn tới hoại tử tế bào gan, tế bào ống thận và hủy hoại mô thượng bì da.

Độc tính ngoài da: Nguy cơ kích ứng và phồng rộp

Kinh nghiệm dân gian hay dùng lá và rễ bạch hoa xà tươi giã nát đắp trị mụn nhọt, bệnh ngoài da. Tuy nhiên, các thử nghiệm da liễu cho thấy chiết xuất này gây kích ứng mô rõ rệt [3].

Một nghiên cứu năm 2008 đánh giá độc tính qua da của chiết xuất rễ bạch hoa xà (bằng dung môi methanol 80%) trên động vật thí nghiệm [3]. Kết quả thử nghiệm kích ứng da trên thỏ ghi nhận chỉ số kích ứng ban đầu (primary irritation index) đạt mức 2,00, xếp vào nhóm chất gây kích ứng mức độ trung bình [3].

Dù thử nghiệm mẫn cảm trên chuột (Mouse Ear Swelling Test) ở liều 4-10 mg/ml ghi nhận tỷ lệ phản ứng bằng 0 [3], việc tiếp xúc lặp lại với dịch chiết hoặc đắp dạng tươi đậm đặc vẫn gây nóng rát, đỏ da, hình thành mụn nước và viêm loét tổn thương sâu trên bề mặt da.

Rủi ro gan và thận: Hai cơ quan đích chịu ảnh hưởng nặng nhất

Khi đi vào cơ thể qua đường uống, các chất chuyển hóa của rễ bạch hoa xà tập trung thải trừ qua gan và thận, biến hai cơ quan này thành đích tấn công chính của độc tố [4].

Nghiên cứu công bố năm 2015 trên chuột cống trắng Wistar cái (tuân thủ hướng dẫn OECD 425 về độc tính cấp và OECD 407 về độc tính bán trường diễn) đã chứng minh gan và thận là các cơ quan chính bị tổn thương nghiêm trọng sau khi dùng chiết xuất rễ bạch hoa xà kéo dài [4]. Các nhà khoa học thử nghiệm 3 loại chiết xuất: chiết xuất ête dầu mỏ (PZPE), chiết xuất axeton (PZAC) và chiết xuất cồn-nước (PZHA) [4].

Chỉ số gây chết 50% cá thể (LD50) cho thấy PZPE độc nhất với mức LD50 là 93,45 mg/kg, trong khi PZAC và PZHA cùng có mức LD50 là 928,4 mg/kg [4]. Sự khác biệt về mức độ độc này tỷ lệ thuận trực tiếp với hàm lượng hoạt chất plumbagin chứa trong từng loại chiết xuất [4].

Về chức năng gan, toàn bộ các nhóm chuột dùng các dạng chiết xuất rễ bạch hoa xà đều ghi nhận mức tăng đáng kể enzyme aspartate aminotransferase (AST) trong huyết thanh [4]. Sự gia tăng AST phản ánh tế bào gan bị viêm hoại tử và rò rỉ men gan vào máu [4]. Đồng thời, các biến đổi bệnh lý mô học ở gan xuất hiện rõ ràng trên tất cả nhóm chuột dùng chiết xuất [4].

Về chức năng thận, nghiên cứu ghi nhận tất cả chiết xuất đều làm tăng đáng kể nồng độ urê huyết thanh [4]. Riêng nhóm dùng PZAC còn bị tăng mạnh creatinin huyết thanh so với nhóm đối chứng [4]. Biến đổi cấu trúc mô học ở thận được ghi nhận trên mọi nhóm động vật thử nghiệm [4]. Ngoài ra, một nghiên cứu độc tính liều lặp lại qua da năm 2008 cũng chỉ ra rằng ở liều cao (1000 mg/kg), chiết xuất rễ cây làm tăng đáng kể chỉ số nitơ urê máu (BUN) và nồng độ kali huyết (K+) (với p < 0,05) [3].

Ảnh hưởng tim, tuyến thượng thận và các chỉ số máu

Tác động độc hại của bạch hoa xà không dừng ở gan thận mà còn mở rộng sang hệ tim mạch, nội tiết và tế bào máu khi dùng dạng bán trường diễn [4].

Nghiên cứu năm 2015 ghi nhận hiện tượng gia tăng trọng lượng cơ quan nội tạng có ý nghĩa thống kê ở nhóm chuột dùng PZPE và PZAC, cụ thể gồm tim, tuyến thượng thận và gan [4]. Sự biến đổi trọng lượng bất thường này chỉ ra phản ứng phù nề, xung huyết hoặc phì đại mô do ngộ độc [4]. Bên cạnh đó, nghiên cứu năm 2008 ghi nhận nhóm dùng liều cao lặp lại qua da có hiện tượng tăng trọng lượng tương đối của tinh hoàn (p < 0,05) [3].

Độc tính trên hệ huyết học cũng được ghi nhận rõ nét. Chuột dùng PZPE ở liều cao nhất bị sụt giảm chỉ số hematocrit (thể tích hồng cầu) [4]. Đồng thời, tất cả các nhóm dùng PZAC đều bị suy giảm số lượng bạch cầu rõ rệt [4]. Điều này cho thấy nguy cơ ức chế tủy xương, giảm khả năng miễn dịch và gây thiếu máu khi dùng liều cao không kiểm soát [4].

Bằng chứng khoa học: Lợi ích phòng thí nghiệm và giới hạn

Các nghiên cứu in vitro (trong ống nghiệm) và in vivo (trên động vật) cho thấy một số tiềm năng sinh học của bạch hoa xà. Chiết xuất rễ cồn ở liều 250 và 500 mg/kg uống trong 5 ngày giúp bảo vệ chuột Swiss albino trước độc tính di truyền và stress oxy hóa do hóa chất cyclophosphamide gây ra [5]. Dịch chiết lá và thân bằng methanol có hoạt tính kháng lại một số chủng vi khuẩn (S. aureus, P. aeruginosa) và vi nấm (F. oxysporum, P. expansum) [6]. Plumbagin tinh khiết ở liều 2 mg/kg tiêm màng bụng mỗi ngày trong 3 tuần giúp giảm 64,49% thể tích khối u bạch cầu trên chuột NOD/SCID [2].

Tuy nhiên, ranh giới giữa tác dụng sinh học và độc tính của thảo dược này rất mong manh. Hoạt chất plumbagin ở liều rất thấp (dưới mức gây hại ADN) có thể giảm tổn thương ADN do chất catechol gây ra, nhưng chính nó lại gây đứt gãy sợi ADN ngay ở nồng độ chỉ 0,25 ng/ml [1]. Hơn nữa, toàn bộ dữ liệu an toàn và độc tính hiện có chỉ dừng lại ở mô hình tế bào và động vật gặm nhấm (chuột cống Wistar, chuột nhắt Swiss albino, thỏ) [1, 2, 3, 5, 8]. Hiện chưa có thử nghiệm lâm sàng chuẩn hóa nào trên người thiết lập liều an toàn của bạch hoa xà.

Hiểu lầm thường gặp khi dùng cây tươi

Sai lầm phổ biến nhất là đánh đồng nguồn gốc tự nhiên với sự lành tính. Người dân thường hái lá, thân tươi giã nát đắp trực tiếp lên các vết ghẻ lở, nấm da, u hạch hoặc chấn thương khớp. Nhựa và chiết xuất tươi chứa nồng độ plumbagin đậm đặc, khi đắp lâu trên da tạo ra phản ứng viêm da tiếp xúc kích ứng nặng, gây phồng rộp như bỏng nhiệt [3].

Một hiểu lầm khác là tự ý sắc rễ bạch hoa xà uống dài ngày để trị đau nhức xương khớp hoặc bệnh mạn tính [4]. Các tổn thương mô gan, mô thận và suy giảm bạch cầu tiến triển âm thầm, không có biểu hiện rầm rộ ban đầu [4]. Đến khi xuất hiện triệu chứng vàng da, mệt mỏi, phù nề do suy thận thì các chỉ số men gan (AST), urê và creatinin máu đã tăng vọt [4].

Đối tượng cần tuyệt đối thận trọng

Những người có tiền sử bệnh lý gan (viêm gan, xơ gan, tăng men gan) tuyệt đối không sử dụng bạch hoa xà do nguy cơ tổn thương gan cấp tính và làm tăng AST [4].

Người mắc suy thận, suy giảm chức năng bài tiết không được dùng do độc tính tích tụ urê, creatinin và biến đổi vi thể mô thận [4]. Thảo dược này cũng có thể làm rối loạn cân bằng điện giải kali [3].

Người suy giảm miễn dịch, thiếu máu hoặc bệnh lý tủy xương cần tránh xa do tác động làm giảm hematocrit và sụt giảm bạch cầu của các hoạt chất chiết xuất [4].

Người có làn da nhạy cảm, có vết thương hở không bôi đắp cây tươi dưới mọi hình thức vì nguy cơ kích ứng mô và nhiễm trùng thứ phát từ vết loét [3].

Khuyến cáo áp dụng thực tế an toàn

Bạch hoa xà là vị thuốc có độc tính bảng cao trong dược liệu học. Không được tự ý thu hái cây hoang dại, giã đắp dạng tươi tại nhà hoặc tự đun sắc nước uống thay trà.

Việc sử dụng bạch hoa xà bắt buộc phải có chỉ định, giám sát chặt chẽ từ bác sĩ chuyên khoa y học cổ truyền. Rễ cây cần qua quy trình bào chế, sao tẩm khắt khe để giảm bớt độc tính trước khi phối ngũ trong các bài thuốc.

Trong quá trình điều trị có sử dụng các bài thuốc chứa vị này, người bệnh phải định kỳ xét nghiệm máu kiểm tra men gan (AST, ALT), đánh giá chức năng lọc thận (urê, creatinin) và công thức máu (bạch cầu, hồng cầu) [4]. Nếu xuất hiện dấu hiệu nóng rát da, buồn nôn, vàng mắt, tiểu ít, cần ngừng ngay dược liệu và tới cơ sở y tế kiểm tra.

Bạch hoa xà có hoạt tính kháng khuẩn và tiềm năng sinh học nhất định trong nghiên cứu thực nghiệm [6, 8]. Song song đó, độc tính phá hủy gan, thận, tim và mô da của nó đã được khoa học thực nghiệm chứng minh rõ ràng [1, 2]. Người bệnh không tự ý dùng thảo dược truyền miệng để bảo vệ tính mạng.