Nhiều người truyền tai nhau rằng cá mập không bao giờ bị ung thư và uống bột sụn vi cá mập hay sụn cá nhám có thể bóp chết khối u ác tính. Tin đồn này khiến không ít bệnh nhân chi nhiều tiền mua thực phẩm chức năng từ sụn cá với hy vọng tự chữa bệnh.

Khẳng định sụn cá nhám làm teo khối u ung thư ở người là sai. Khoa học xác nhận cá mập vẫn bị ung thư bình thường. Dù sụn chứa một số phân tử cản trở mạch máu trong ống nghiệm, các thử nghiệm lâm sàng trên người bệnh ung thư đều đem lại kết quả đáng thất vọng [1].

Nguồn gốc lời đồn cá mập không mắc ung thư

Lời đồn bắt nguồn từ quan sát giải phẫu: bộ xương cá nhám hoàn toàn bằng sụn, mô không có mạch máu nuôi trực tiếp [1]. Giới nghiên cứu ban đầu suy đoán mô sụn phải chứa chất ức chế sinh mạch cực mạnh để tự nuôi sống mà không cần mạch máu [1].

Khối u muốn lớn vượt quá 1-2 mm bắt buộc phải kích thích cơ thể mọc thêm mạch máu mới để cấp dinh dưỡng [1]. Nếu chặn được mạch máu, khối u sẽ chết đói [1]. Người ta vội vàng cho rằng ăn sụn cá nhám sẽ cung cấp chất ức chế mạch máu, làm khối u tự teo rụi.

Suy luận này bỏ qua sự thật sinh học căn bản: cá mập và cá nhám vẫn mắc nhiều loại khối u ác tính. Nghiên cứu thực tế cho thấy việc uống sụn thô không mang lại tác dụng điều trị ung thư như đồn thổi [1, 2].

Cơ chế sinh học trong phòng thí nghiệm diễn ra thế nào?

Trong mô hình nuôi cấy tế bào, các thành phần chiết xuất từ sụn cá nhám cho thấy khả năng can thiệp vào quá trình tạo mạch [1, 7].

Thí nghiệm trên tế bào nội mô tĩnh mạch rốn người cho thấy dịch chiết sụn cá nhám gây ức chế chọn lọc sự tăng sinh tế bào nội mô mạch máu mà không ảnh hưởng đến tế bào u sao bào hay nguyên bào sợi da người [2]. Khi dùng ở nồng độ 500 mcg/ml, chiết xuất sụn làm giảm 32% mức tăng sinh tế bào nội mô [2]. Khi kết hợp sụn nồng độ này với 10 ng/ml yếu tố hoại tử u alpha (TNF-alpha), mức ức chế tăng sinh tế bào đạt tới 44% [2]. Hoạt tính kháng sinh mạch này bền nhiệt và nằm ở các phân đoạn trọng lượng phân tử dưới 10 kDa [2].

Nghiên cứu khác tách được phân đoạn protein trọng lượng phân tử 14 và 15 kDa từ sụn cá [3]. Phân đoạn này ức chế tế bào nội mô HBMEC di chuyển trong khuôn fibrin, kích thích phản ứng quá mẫn muộn với hồng cầu cừu ở chuột, giảm hoạt tính độc tế bào của tế bào NK, đồng thời tăng thâm nhiễm tế bào T vào khối u [3].

Gần đây hơn, năm 2023, nghiên cứu công bố phân tử peptide SAIF từ sụn cá nhám thể hiện khả năng ức chế trục tín hiệu VEGF-VEGFR2-ERK [4]. Bằng cách chặn liên kết giữa phối tử VEGF và thụ thể VEGFR2, peptide này cắt đứt đường truyền tín hiệu sinh mạch, làm chậm sự phát triển của khối u trong mô hình động vật [4].

Chiết xuất sụn cá nhám còn kích thích biểu hiện gen t-PA (chất hoạt hóa plasminogen mô) trong tế bào nội mô, thúc đẩy tạo angiostatin để làm thoái hóa mạch máu khối u [5].

Bằng chứng trên động vật: Kết quả bước đầu

Nhiều thí nghiệm tiền lâm sàng trên chuột đã ghi nhận tác động kháng mạch và giảm kích thước u [5, 6, 8].

Nghiên cứu trên mô hình u nguyên bào đệm ở chuột (chuột mang u gliosarcoma 9L) thử nghiệm dùng hỗn dịch sụn cá nhám đường uống với liều xấp xỉ 2.000 mg/kg thể trọng mỗi ngày [6]. Chuột không điều trị sống trung bình 20,7 ngày sau cấy u [6]. Dùng sụn cá nhám đơn độc kéo dài thời gian sống của chuột thêm khoảng 30%, trong đó hai con chuột sống khỏe đến ngày 43 với khối u não nhỏ hơn nhóm chứng khoảng 4 lần [6]. Tuy nhiên, sụn cá không làm tăng thêm hiệu quả khi phối hợp với liệu pháp bắt giữ neutron bằng boron (BNCT) [6].

Ở chuột mang u glioma (các dòng C6, HGD, GL26), chiết xuất sụn làm thoái hóa mạch và tạo hoại tử trong u [5]. Dù vậy, dùng liều cao dẫn đến hiện tượng tiêu đạm quanh mạch và phù nề mô, nghịch lý làm thể tích khối u to ra giả tạo do phù [5]. Tác dụng điều trị bị triệt tiêu khi chuột dùng kèm chất ức chế EACA 120 mg/kg qua đường uống [5]. Chỉ khi kết hợp N-acetylcysteine (NAC) 7,5 mg/kg tiêm màng bụng để kiểm soát tiêu hủy mô, hiện tượng sưng phù u mới giảm và chuột sống lâu hơn [5].

Tiêm màng bụng phân đoạn protein 14-15 kDa cho chuột mang u cũng giúp giảm thể tích tổn thương khối u [3].

Thử nghiệm lâm sàng trên người thất bại ở điểm nào?

Kết quả trên đĩa petri hay chuột cống không đồng nghĩa với hiệu quả ở cơ thể người. Đa số các thử nghiệm lâm sàng sử dụng sụn cá nhám cho bệnh nhân ung thư đều đem lại kết quả không đạt yêu cầu [1].

Thứ nhất, việc dùng sụn cá nhám dạng thô chưa từng được y học công nhận vì thiếu bằng chứng thuyết phục [1, 2]. Bản chất hoạt chất chống sinh mạch trong sụn là protein và peptide [3, 8]. Khi uống vào dạ dày, hệ tiêu hóa sẽ phân cắt các chuỗi protein này thành axit amin đơn lẻ, làm mất cấu trúc hoạt tính sinh học trước khi kịp ngấm vào máu. Các nghiên cứu chỉ ra hiện thiếu dữ liệu chứng minh độ khả dụng sinh học tương quan với tác dụng dược lý của sụn cá nhám đường uống [1].

Thứ hai, ngay cả dạng chiết xuất tinh chế hòa tan trong nước mang tên AE-941 (Neovastat) – chiếm chưa đến 5% khối lượng sụn thô – cũng không cứu vãn được kỳ vọng [7]. AE-941 có khả năng gắn vào VEGFR, ức chế enzyme metalloproteinase màng nền, kích thích enzyme hoạt hóa plasminogen và thúc đẩy apoptosis [8].

Thử nghiệm lâm sàng pha I/II trên 80 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn tiến xa đã thử nghiệm AE-941 ở 2 mức liều (dưới hoặc bằng 2,6 mL/kg/ngày và trên 2,6 mL/kg/ngày) [8]. Bệnh nhân dung nạp tốt, liều cao cho thời gian sống trung vị 6,1 tháng so với 4,6 tháng ở liều thấp [8]. Tuy nhiên, mức cải thiện này rất khiêm tốn. Cho đến nay, bevacizumab vẫn là liệu pháp kháng sinh mạch duy nhất dựa trên các thử nghiệm pha II và III ngẫu nhiên được phê duyệt chính thức cho ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến xa, trong khi sụn cá nhám và các chiết xuất của nó không chứng minh được vai trò điều trị vượt trội [8].

Hiểu lầm thường gặp của người bệnh

Sai lầm lớn nhất là đánh đồng hoạt tính trong ống nghiệm với thuốc chữa bệnh trên người. Một chất ngăn mạch máu trong ống nghiệm nồng độ 500 mcg/ml cần lượng tiêu thụ khổng lồ nếu uống trực tiếp [2].

Nhiều người tin uống viên sụn cá nhám thô xay nhỏ có thể "bỏ đói" khối u. Đây là ngộ nhận nguy hiểm. Sụn thô không tan, hấp thu rất kém và chứa lượng canxi cao [1, 2]. Chưa có thử nghiệm lâm sàng chuẩn mực nào chứng minh ăn sụn cá giúp làm tiêu biến hay teo nhỏ khối u ác tính ở người [1].

Hơn nữa, săn lùng sụn cá nhám tự nhiên làm cạn kiệt nguồn cá mập hoang dã [4]. Do cá mập bị đe dọa tuyệt chủng vì đánh bắt quá mức, các nhà khoa học hiện phải chuyển hướng sang dùng kỹ thuật di truyền biểu hiện peptide như SAIF trong vi khuẩn E. coli để nghiên cứu cấu trúc, thay vì khai thác sụn tự nhiên [4].

Ai cần đặc biệt thận trọng?

Người mắc bệnh ung thư đang theo phác đồ hóa trị, xạ trị hay liệu pháp miễn dịch tuyệt đối không tự ý dùng sụn cá nhám thay thế chỉ định chuyên khoa.

Các hợp chất trong sụn cá nhám tương tác phức tạp với hệ miễn dịch. Chiết xuất sụn làm giảm hoạt tính độc tế bào của tế bào NK – thành phần quan trọng tiêu diệt tế bào lạ [3]. Can thiệp bừa bãi vào hệ miễn dịch có thể gây bất lợi cho người đang điều trị khối u.

Thí nghiệm động vật cũng cảnh báo sụn cá nhám liều cao có thể gây phù nề tổ chức mô và hoại tử làm sưng to khối u nội sọ [5]. Người có khối u não hoặc tổn thương nội sọ tự ý dùng liều cao có thể đối mặt nguy cơ tăng áp lực nội sọ nguy hiểm.

Bệnh nhân suy thận, tim mạch cần cẩn trọng vì các chế phẩm sụn chứa hàm lượng khoáng chất và canxi rất lớn, dễ gây quá tải chuyển hóa.

Áp dụng thực tế và lời khuyên cân bằng

Các hoạt chất từ sụn cá nhám hiện dừng ở mức độ nghiên cứu tiền lâm sàng và thử nghiệm chiết xuất chuyên biệt, không phải thuốc điều trị ung thư được lưu hành phổ biến [1, 3, 4].

Người bệnh không mua và không dùng các loại bột sụn cá, viên uống sụn cá nhám truyền tay với kỳ vọng trị ung thư. Nếu sử dụng thực phẩm chức năng chứa sụn vi cá cho bệnh lý thoái hóa khớp, cần đọc kỹ hàm lượng, nguồn gốc và thông báo với bác sĩ điều trị để tránh tương tác thuốc.

Khi nghi ngờ hoặc phát hiện tế bào ác tính, con đường an toàn duy nhất là tuân thủ phác đồ điều trị chuẩn mực tại bệnh viện chuyên khoa ung bướu (phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, thuốc nhắm trúng đích). Bổ sung bất kỳ chế phẩm sinh học nào cũng cần có sự đồng thuận từ bác sĩ điều trị trực tiếp.