Nhiều người có thói quen dùng thảo dược bồi bổ hoặc hỗ trợ điều trị bệnh mà không chú ý đến tương tác thuốc. Khi kết hợp thiên môn ráng (Asparagus racemosus) cùng thuốc tim mạch, huyết áp hay thuốc lợi tiểu, người bệnh thường băn khoăn liệu thảo dược này có gây ảnh hưởng xấu hay làm biến đổi tác dụng của thuốc hay không.

Khẳng định thiên môn ráng chắc chắn làm thay đổi tác dụng thuốc tim mạch là chưa có bằng chứng lâm sàng trực tiếp trên người. Dù vậy, các nghiên cứu thực nghiệm ghi nhận rễ thiên môn ráng có hoạt tính lợi tiểu rõ rệt, do đó tiềm ẩn nguy cơ tương tác cộng hưởng khi dùng chung với thuốc hạ áp hoặc thuốc lợi tiểu tây y.

Thảo mộc tự nhiên và nguy cơ tương tác thuốc

Nhiều người lầm tưởng thảo mộc hoàn toàn lành tính và có thể dùng tùy ý song song với thuốc tây. Thực tế lâm sàng ghi nhận nhiều trường hợp tương tác thảo dược - thuốc kê đơn xảy ra qua các cơ chế dược động học và dược lực học [1]. Sự cảm ứng hoặc ức chế chuyển hóa là cơ chế thường gặp dẫn tới tương tác thuốc [1].

Các loại thuốc có khoảng điều trị hẹp như warfarin, digoxin, cyclosporine rất dễ bị ảnh hưởng bởi thảo dược dùng cùng [1]. Nhiều dược liệu quen thuộc như tỏi, gừng, bạch quả, nhân sâm hay cỏ St. John đã được báo cáo làm biến đổi sinh khả dụng hoặc gia tăng tác dụng phụ của thuốc tây [1].

Chẳng hạn, bạch quả khi kết hợp với thuốc lợi tiểu thiazide có thể làm tăng huyết áp, hoặc làm tăng nguy cơ chảy máu khi uống cùng aspirin hay warfarin [1]. Các nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp và thuốc lợi tiểu là những loại có số lượng kết hợp với thảo dược lớn nhất và tiềm ẩn nguy cơ xuất hiện tương tác [2].

Đặc tính sinh học và tác dụng đào thải của rễ thiên môn ráng

Thiên môn ráng (Asparagus racemosus) thuộc chi Asparagus, họ Liliaceae, là loại cây bụi bản địa có lịch sử sử dụng lâu đời [3]. Theo y học cổ truyền Unani, rễ của cây được dùng làm thuốc nhuận tràng, thuốc bổ và ứng dụng trong các bệnh lý về thận và gan [3]. Rễ cây thiên môn ráng cũng thường được dùng cho phụ nữ đang cho con bú để tăng tiết sữa [3].

Về mặt hóa học, bột rễ thiên môn ráng chứa 2,95% protein, 5,44% saponin, 52,89% carbohydrate, 17,93% chất xơ thô, 4,18% chất vô cơ và 5% dầu [3]. Bốn loại saponin chính được phân lập từ rễ là shatavarin I-IV, vốn là glycoside của sarsasapogenin [3]. Rễ của các loài thuộc chi Asparagus nhìn chung đều được ghi nhận đặc tính thúc đẩy đào thải qua đường tiểu tiện [3].

Đặc tính bài tiết này khiến thiên môn ráng được xếp vào nhóm thảo dược có tác động lên sự thanh thải nước của cơ thể. Khi cơ thể tăng đào thải dịch, thể tích tuần hoàn và sự cân bằng điện giải sẽ thay đổi, kéo theo sự thay đổi về dược lực học nếu đang dùng thuốc tim mạch.

Nghiên cứu thực nghiệm nói gì về tác dụng của thiên môn ráng?

Để kiểm chứng kinh nghiệm dân gian về tác dụng lợi tiểu của thiên môn ráng, một nghiên cứu trên động vật công bố năm 2010 đã được tiến hành [4]. Nghiên cứu này dùng dịch chiết nước từ rễ cây Asparagus racemosus trên chuột cống trắng, so sánh trực tiếp với thuốc đối chứng tiêu chuẩn là furosemide (một loại thuốc lợi tiểu quai) và nhóm đối chứng dùng nước muối sinh lý [4].

Các nhà khoa học đã thử nghiệm ba mức liều dịch chiết gồm 800 mg/kg, 1600 mg/kg và 3200 mg/kg thể trọng [4]. Kết quả thử nghiệm độc tính cấp tính cho thấy chuột không bị tử vong ngay cả ở mức liều cao nhất [4]. Đáng chú ý, ở liều 3200 mg/kg, dịch chiết rễ thiên môn ráng thể hiện hoạt tính lợi tiểu có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) [4].

Dù vậy, nghiên cứu này chỉ mới dừng lại trên mô hình chuột thí nghiệm với mức liều chiết xuất rất cao [4]. Hiện chưa có thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng nào trên người nhằm xác định liều lượng tương đương hay đánh giá chính xác tác động lợi tiểu của thiên môn ráng trên bệnh nhân tim mạch.

Bên cạnh đó, các nghiên cứu khác về chiết xuất thực vật thuộc chi Asparagus chủ yếu tập trung vào cơ chế chống oxy hóa hoặc tác dụng kháng khối u trong ống nghiệm [1, 8]. Một nghiên cứu năm 2021 sử dụng phổ cộng hưởng thuận từ điện tử (EPR) cho thấy dịch ngâm rễ Asparagus racemosus có khả năng dọn gốc tự do, dù mức độ thấp hơn một số thảo mộc khác như Mitchella repens hay Galega officinalis [5].

Cơ chế tiềm ẩn nguy cơ với thuốc hạ áp và lợi tiểu

Dù chưa có ca lâm sàng trực tiếp ghi nhận tương tác giữa riêng thiên môn ráng và thuốc tim mạch, cơ chế dược lý học cảnh báo nguy cơ tương tác cộng hưởng. Nghiên cứu mô hình tin sinh học năm 2022 chỉ ra rằng nhiều hợp chất thực vật có khả năng liên kết với các đích protein liên quan đến dược lực học của thuốc hạ áp, ảnh hưởng trực tiếp đến sự bài tiết và chuyển hóa của thuốc [6].

Cụ thể, các tương tác quan trọng có thể làm ảnh hưởng đến dược lực học và sự đào thải của nhóm thuốc lợi tiểu thiazide và thiazide-like (như bendroflumethiazide, indapamide, chlorthalidone), cũng như cản trở chuyển hóa thuốc chẹn kênh canxi hoặc thuốc chẹn thụ thể ARB [6]. Khi dùng chung một thảo dược có tính lợi tiểu như rễ thiên môn ráng với thuốc lợi tiểu hoặc thuốc hạ áp, hiệu ứng tăng thải muối và nước có thể bị khuếch đại [4, 6].

Hậu quả của sự cộng hưởng này có thể dẫn tới tụt huyết áp quá mức, mất nước hoặc rối loạn các chất điện giải trong máu. Tương tự, một báo cáo năm 2017 về thảo dược Equisetum arvense (cũng là dược liệu có đặc tính lợi tiểu) đã ghi nhận nguy cơ tương tác làm thất bại phác đồ điều trị của thuốc uống cùng [7].

Hiểu lầm thường gặp khi dùng dược liệu bổ trợ

Quan niệm sai lầm phổ biến nhất là thảo dược tự nhiên không bao giờ tương tác hay xung đột với thuốc tây y. Nhiều bệnh nhân tim mạch tự ý uống thêm trà thảo mộc hoặc cao rễ thiên môn ráng bồi bổ sức khỏe nhưng giấu bác sĩ điều trị. Việc không thông báo về thảo dược bổ sung là nguyên nhân chính dẫn đến các biến cố tương tác bất lợi [2].

Một hiểu lầm khác là quy đổi trực tiếp kết quả thử nghiệm trên chuột sang người. Liều 3200 mg/kg dịch chiết rễ thiên môn ráng có tác dụng lợi tiểu trên chuột là mức liều rất lớn trong điều kiện phòng thí nghiệm [4]. Do đó, người dùng không thể tự suy luận rằng uống vài ly nước sắc thiên môn ráng thông thường cũng tạo ra kết quả đào thải y hệt như thuốc kê đơn.

Tuy không tạo ra hiệu ứng tức thì mạnh mẽ như thuốc điều trị, việc nạp đều đặn các hợp chất từ rễ cây vẫn có thể gây biến động huyết áp và ảnh hưởng tới chức năng thận nếu dùng dài ngày mà không có kiểm soát [6].

Những đối tượng cần thận trọng đặc biệt

Các chuyên gia khuyến cáo cần đặc biệt chú ý và theo dõi chặt chẽ việc phối hợp thuốc - thảo dược ở nhóm người cao tuổi [4, 5]. Người cao tuổi thường mắc đồng thời nhiều bệnh lý mạn tính và chức năng đào thải qua gan, thận đã suy giảm [6].

Bệnh nhân suy thận, người rối loạn chức năng gan và người đang sử dụng thuốc lợi tiểu quai (như furosemide) là những nhóm đối tượng có nguy cơ tổn thương cao nhất khi xảy ra tương tác [6]. Dịch chiết rễ thiên môn ráng từng được nghiên cứu đối chứng với furosemide [4], do đó việc dùng song song thảo dược này cùng thuốc lợi tiểu quai có thể làm tăng gánh nặng lên thận.

Ngoài ra, những người đang điều trị tăng huyết áp bằng thuốc chẹn kênh canxi, thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc chẹn thụ thể ARB cũng không nên tự ý dùng thiên môn ráng mà không có sự đồng ý của bác sĩ chuyên khoa [6].

Lời khuyên áp dụng thực tế an toàn

Người bệnh đang dùng bất kỳ loại thuốc tim mạch, hạ áp hoặc lợi tiểu nào cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc dược sĩ lâm sàng trước khi bắt đầu dùng thiên môn ráng. Hiện tại dữ liệu khoa học chưa đưa ra mức liều dùng an toàn hay thời điểm dùng kết hợp cụ thể nào giữa dược liệu này với thuốc tim mạch [4].

Nếu được bác sĩ cho phép sử dụng, người bệnh chỉ nên dùng lượng vừa phải và uống cách xa thời điểm dùng thuốc tây y. Trong suốt quá trình sử dụng, cần thường xuyên tự theo dõi các chỉ số huyết áp tại nhà và chú ý các dấu hiệu cơ thể như chóng mặt, hoa mắt, mệt mỏi bất thường hoặc thay đổi lượng nước tiểu hàng ngày.

Khi xuất hiện bất kỳ dấu hiệu bất thường nào nghi do tụt huyết áp hoặc rối loạn điện giải, người bệnh cần ngừng dùng thảo dược ngay lập tức và đến cơ sở y tế để được kiểm tra.

Thiên môn ráng là dược liệu truyền thống mang nhiều hoạt tính sinh học, nhưng đặc tính thúc đẩy bài tiết nước tiểu của rễ cây tiềm ẩn nguy cơ làm xáo trộn hiệu quả điều trị thuốc tim mạch [4]. Người bệnh không nên tự ý phối hợp để phòng ngừa rủi ro hạ áp quá mức hoặc biến cố tương tác bất lợi. Việc dùng thuốc đúng chỉ định và thảo luận minh bạch với bác sĩ là nguyên tắc cốt lõi giúp bảo vệ sức khỏe tim mạch an toàn.