Nỗi lo dùng chung thảo dược và thuốc chống đông

Nhiều người bệnh tim mạch, huyết khối hoặc rung nhĩ thường có thói quen tìm kiếm các vị thảo dược Đông y để "thông huyết", "bổ huyết" hoặc hỗ trợ điều trị song song với thuốc Tây y. Trong số các dược liệu cổ truyền, ngũ linh chi (phân khô của loài sóc bay Trogopterus xanthipes) thường được truyền tụng với tác dụng hoạt huyết, chỉ thống. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa các vị thuốc hoạt huyết với thuốc chống đông, chống kết tập tiểu cầu tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường.

Liệu ngũ linh chi có chứa các hoạt chất acid hữu cơ giúp chống đông máu tự nhiên như lời đồn? Dưới góc nhìn của khoa học thực nghiệm, việc hiểu rõ bản chất hoạt chất cũng như nguy cơ tương tác với thuốc chống đông tổng hợp là yếu tố sống còn giúp bảo vệ tính mạng người bệnh.

Ngũ linh chi dưới góc nhìn khoa học hiện đại

Trong các tài liệu y học cổ truyền, ngũ linh chi là phân đã qua chế biến phơi khô của sóc bay, được xếp vào nhóm hoạt huyết khứ ứ. Một số bài thuốc phối hợp vị thuốc này đã bước đầu được đưa vào các thử nghiệm tiền lâm sàng hiện đại để đánh giá cơ chế tác động lên tế bào máu [1].

Năm 2015, một nghiên cứu trên mô hình động vật đánh giá bài thuốc cổ truyền "Tiền ngũ tê giác nhân sâm thang" (QFRG) – gồm các vị như sừng trâu, sinh địa, thiến thảo, ngũ linh chi (trogopterus dung) và đan sâm – đã được tiến hành trên chuột bị giảm tiểu cầu miễn dịch do tiêm kháng thể MWReg30 [1]. Kết quả ghi nhận bài thuốc QFRG làm tăng đáng kể số lượng tiểu cầu ở chuột bệnh thông qua cơ chế kích thích miR-181a, từ đó ức chế biểu hiện TLR-4 và làm giảm các cytokine viêm như IL-6, TNF-alpha [1].

Dù vậy, cần nhấn mạnh rằng trong nghiên cứu này, ngũ linh chi chỉ là một thành phần trong một bài thuốc phối hợp nhiều vị thảo dược [1]. Nghiên cứu tập trung vào hiệu ứng nâng số lượng tiểu cầu thông qua trục điều hòa miễn dịch trên chuột bệnh, hoàn toàn chưa phân lập hay xác định cụ thể từng acid hữu cơ đơn lẻ trong ngũ linh chi chịu trách nhiệm cho tác dụng ức chế ngưng tập tiểu cầu hay chống đông độc lập [1].

Bằng chứng về ức chế tiểu cầu và các acid hữu cơ: Khoảng trống nghiên cứu

Nhiều lời đồn thổi cho rằng ngũ linh chi chứa hàm lượng phong phú các acid hữu cơ có khả năng làm tan cục máu đông hoặc ức chế tiểu cầu trực tiếp tương tự như các dẫn xuất tổng hợp. Tuy nhiên, rà soát dữ liệu khoa học thực nghiệm cho thấy chưa có nghiên cứu đơn lẻ nào trong danh mục trích đoạn phân tích chi tiết cơ chế phân tử của các acid hữu cơ từ ngũ linh chi đối với các thụ thể bề mặt tiểu cầu.

Thông thường, quá trình ngưng tập tiểu cầu trong cơ thể xảy ra khi có các chất kích tập nội sinh như adenosine diphosphate (ADP), acid arachidonic (AA), collagen hoặc epinephrine tác động [2], [3]. Các xét nghiệm đo độ ngưng tập bằng ánh sáng (LTA) thường dùng ADP (10 µM), acid arachidonic (0,5 mg/dl) hoặc collagen để đánh giá chức năng tiểu cầu [3]. Mặc dù phản ứng kết tập do acid arachidonic là một cơ chế kinh điển trong sinh lý học máu [2], việc quy kết ngũ linh chi có acid hữu cơ can thiệp ức chế chuỗi phản ứng này hiện vẫn thiếu bằng chứng thực nghiệm rõ ràng.

Do thiếu các dữ liệu nghiên cứu hóa học và dược lý lâm sàng độc lập trên người, việc người bệnh tự ý suy diễn rằng ngũ linh chi có thể dùng thay thế thuốc chống đông hoặc giúp ức chế kết tập tiểu cầu an toàn là một ngộ nhận không có cơ sở xác thực.

Cơ chế tác động phức tạp của thuốc chống đông và nguy cơ tiểu cầu

Để hiểu vì sao việc dùng tùy tiện thảo dược hoạt huyết có thể gây nguy hiểm, cần nhìn vào cách thuốc chống đông và thuốc chống kết tập tiểu cầu tương tác trong cơ thể. Hệ thống cầm máu phụ thuộc vào sự cân bằng mong manh giữa các yếu tố đông máu huyết tương và chức năng kết dính của tiểu cầu [2], [4].

Một nghiên cứu công bố năm 2002 trên 99 bệnh nhân rung nhĩ thuộc thử nghiệm NASPEAF cùng 15 người khỏe mạnh đối chứng đã cho thấy những biến số bất ngờ trong hoạt hóa tiểu cầu [2]. Nghiên cứu chia các bệnh nhân thành 4 nhóm dùng phác đồ chống huyết khối khác nhau: nhóm 1 dùng 600 mg thuốc chống kết tập tiểu cầu triflusal; nhóm 2 dùng thuốc chống đông duy trì chỉ số INR từ 2 đến 3; nhóm 3 dùng kết hợp triflusal với chống đông mức thấp (INR trung bình 1,85); nhóm 4 dùng kết hợp với chống đông mức điều trị (INR trung bình 2,15) [2].

Khi kích thích bằng acid arachidonic, thời gian bắt đầu ngưng tập tiểu cầu ở nhóm dùng thuốc chống đông đơn thuần ngắn hơn hẳn so với người khỏe mạnh (0,6 ± 0,21 phút so với 1,1 ± 1,2 phút), cho thấy xu hướng tăng hoạt tính tiểu cầu khi dùng thuốc chống đông đơn độc [2]. Tỷ lệ ngưng tập tiểu cầu ở phút thứ 5 của nhóm chống đông đơn thuần là 43,2 ± 19%, trong khi ở nhóm dùng thuốc chống kết tập tiểu cầu triflusal đơn thuần chỉ là 29,6 ± 17%, và nhóm kết hợp (nhóm 4) là 23,2 ± 22,5% [2]. Dữ liệu chứng minh thuốc chống tiểu cầu đơn thuần hoặc phối hợp với chống đông giúp giảm ngưng tập tiểu cầu rõ rệt, trong khi thuốc chống đông mức thấp có xu hướng làm tăng hoạt tính ngưng tập [2].

Trước đó, một nghiên cứu từ năm 1969 trên các bệnh nhân điều trị bằng nicoumalone (thuốc chống đông nhóm coumarin) cũng chỉ ra rằng ức chế con đường đông máu nội ứng làm chậm ngưng tập tiểu cầu trong ống Chandler, nhưng các bệnh nhân này lại có phản ứng tăng ngưng tập đối với chất kích hoạt ADP [4]. Điều này chứng minh rằng kiểm soát chống đông qua thời gian prothrombin (PT) có những giới hạn nhất định, vì tiểu cầu và các yếu tố đông máu tương tác theo nhiều con đường sinh học độc lập [4]. Khi người bệnh tự ý thêm vào các hoạt chất thảo dược chưa rõ cơ chế, sự mất cân bằng này có thể dẫn tới biến cố xuất huyết nặng hoặc ngược lại là hình thành cục máu đông bất thường.

Tương tác nguy hiểm: Rủi ro xuất huyết khi tự ý kết hợp

Xuất huyết là biến chứng đáng sợ nhất đối với bất kỳ ai đang sử dụng thuốc chống đông đường uống hoặc liệu pháp chống kết tập tiểu cầu kép [2], [3]. Trong nghiên cứu về bệnh lý tự miễn và đông máu năm 1988, rối loạn kết tập tiểu cầu do các chất kích hoạt như ADP, epinephrine, collagen và acid arachidonic khi kết hợp với bất thường đông máu có thể kéo dài thời gian chảy máu lên trên 20 phút, dẫn đến xu hướng chảy máu nghiêm trọng trên lâm sàng [5].

Khi người bệnh đang dùng các thuốc kháng đông (như coumarin, heparin) hoặc thuốc kháng tiểu cầu (như clopidogrel, ticagrelor, prasugrel, triflusal) [2], [3], hàng rào bảo vệ chống chảy máu của cơ thể đã bị hạ thấp có chủ đích để ngăn ngừa nhồi máu hay đột quỵ. Nếu bổ sung thêm ngũ linh chi hoặc các vị thảo dược hoạt huyết phức tạp:

  • Cơ thể có thể đối mặt với nguy cơ cộng gộp tác dụng phụ, làm tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa hoặc gây chảy máu khó cầm.
  • Không thể đo lường hay kiểm soát tương tác bằng các xét nghiệm thường quy như đo thời gian prothrombin thông thường [4].
  • Gây nhiễu loạn các xét nghiệm đánh giá chức năng tiểu cầu hoặc chẩn đoán các rối loạn đông máu đi kèm [6], [7]. Chẳng hạn, một số chất trong mẫu máu có thể gây hiện tượng ngưng tập tiểu cầu giả tạo phụ thuộc chất chống đông, đòi hỏi các chất đặc hiệu như amikacin mới có thể ức chế và phân tách các đám ngưng tập giả này [6].

Do đó, việc phối hợp không kiểm soát giữa ngũ linh chi và thuốc tây y có thể đẩy người bệnh vào tình trạng nguy hiểm tính mạng do xuất huyết nội tạng hoặc xuất huyết não.

Ai nên tuyệt đối thận trọng?

Dựa trên các đặc tính dược lý và nguy cơ biến chứng đông máu, những nhóm đối tượng sau cần đặc biệt cẩn trọng:

  • Người đang điều trị bằng thuốc chống đông và kháng tiểu cầu: Bệnh nhân rung nhĩ, người đặt stent mạch vành, người thay van tim nhân tạo đang sử dụng coumarin, kháng vitamin K, thuốc chống đông thế hệ mới hoặc thuốc kháng tiểu cầu [2], [4], [3].
  • Người có tiền sử hoặc đang mắc các rối loạn đông máu, chảy máu: Người bị bệnh lý suy giảm chất lượng hoặc số lượng tiểu cầu, bệnh nhân có thời gian chảy máu kéo dài [5], [7].
  • Người chuẩn bị phẫu thuật hoặc can thiệp nha khoa: Việc dùng thảo dược hoạt huyết có thể làm tăng nguy cơ mất máu trong và sau phẫu thuật.
  • Phụ nữ có thai và cho con bú, trẻ em: Hiện tại chưa có bất kỳ dữ liệu nghiên cứu an toàn nào trên các đối tượng này; dữ liệu thực nghiệm về bài thuốc chứa ngũ linh chi mới chỉ thực hiện trên mô hình chuột và dòng tế bào chuột [1]. Do đó, các nhóm đối tượng nhạy cảm này không được tự ý sử dụng.

Ứng xử đúng đắn với thảo dược hoạt huyết

Để bảo vệ sức khỏe tim mạch và hệ tuần hoàn mà không gặp phải các rủi ro đáng tiếc, người bệnh cần tuân thủ các nguyên tắc y khoa thực chứng:

  • Minh bạch thông tin với bác sĩ: Luôn thông báo cho bác sĩ điều trị và chuyên gia dinh dưỡng về tất cả các sản phẩm thảo dược, thuốc cổ truyền hoặc thực phẩm bổ sung đang dùng.
  • Không tự ý phối hợp đơn thuốc: Tuyệt đối không tự ý sắc thuốc chứa ngũ linh chi uống chung với thuốc chống đông, thuốc hạ áp hay các thuốc tim mạch khác [2], [1].
  • Theo dõi sát các dấu hiệu xuất huyết: Nếu vô tình sử dụng hoặc xuất hiện các triệu chứng bất thường như bầm tím dưới da không rõ nguyên nhân, chảy máu chân răng kéo dài, đi ngoài phân đen hoặc tiểu ra máu, cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để kiểm tra chức năng đông máu và tiểu cầu [4], [7].
  • Tuân thủ liều lượng chỉ định: Mọi can thiệp điều trị đông máu đều cần được chuẩn hóa thông qua theo dõi các chỉ số sinh hóa và xét nghiệm chức năng tiểu cầu chuyên sâu như phương pháp đo độ ngưng tập tiểu cầu [3], [7].

Y học cổ truyền chứa đựng nhiều tiềm năng quý báu, nhưng chỉ an toàn khi được đặt dưới lăng kính soi chiếu của khoa học thực chứng. Đối với ngũ linh chi, việc hiểu đúng giới hạn của bằng chứng hiện tại sẽ giúp người bệnh tránh xa các tai biến chảy máu khó lường.