Cây quao nước (tên khoa học Dolichandrone spathacea) mọc phổ biến tại các vùng rừng ngập mặn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Trong kinh nghiệm dân gian, loài cây này thường được nhắc đến qua các bài thuốc truyền miệng hỗ trợ giảm triệu chứng tiểu đường hoặc viêm phế quản mạn tính. Nhiều người vì vậy tìm kiếm lá và vỏ cây quao nước để nấu uống với hy vọng cải thiện các vấn đề chuyển hóa và hô hấp.

Tuy nhiên, các nghiên cứu khoa học hiện nay về cây quao nước mới chỉ dừng lại ở phạm vi phòng thí nghiệm (in vitro) và mô hình tính toán giả lập trên máy tính (in silico). Chưa có bất kỳ thử nghiệm lâm sàng nào được tiến hành trên cơ thể người để xác định hiệu quả điều trị hoặc độ an toàn.

Hoạt chất chính trong lá quao nước tác động ra sao?

Các phân tích hóa thực vật ghi nhận lá và vỏ thân quao nước chứa nhiều nhóm hợp chất thứ cấp có hoạt tính sinh học. Trong đó, nhóm iridoid glycoside (đặc biệt là các dẫn xuất của catalpol) và nhóm polyphenol, flavonoid được chú ý nhiều nhất nhờ khả năng tương tác với các enzyme then chốt trong cơ thể.

Về cơ chế enzyme, xanthine oxidase (XO) là loại enzyme giữ vai trò chủ chốt trong quá trình chuyển hóa purine ở gan, trực tiếp tạo ra axit uric. Khi enzyme này hoạt động quá mức, lượng axit uric trong máu tăng cao dẫn tới nguy cơ lắng đọng tinh thể urate. Hoạt chất từ quao nước thể hiện tính chất ức chế cạnh tranh với trung tâm hoạt động của XO, từ đó ngăn cản enzyme phân giải cơ chất tạo axit uric trong môi trường ống nghiệm [1].

Bên cạnh đó, các dẫn xuất iridoid loại catalpol mang vòng epoxy ở vị trí C-7 và C-8 cũng được nghiên cứu về cơ chế tác động lên chuyển hóa đường [2]. Nhóm hợp chất này tham gia liên kết cấu trúc giả lập với các enzyme tiêu hóa đường như alpha-glucosidase, mở ra hướng nghiên cứu hỗ trợ làm chậm hấp thu carbohydrate [2].

Ngoài ra, các hợp chất tự nhiên trong cây quao nước còn có khả năng tương tác với các mục tiêu liên quan đến phản ứng viêm [3]. Thông qua việc điều hòa các chất trung gian gây viêm, cao chiết quao nước giúp hạn chế sự tăng sinh quá mức của các phân tử truyền tín hiệu viêm trong mô hình tế bào thực nghiệm [3].

Bằng chứng ức chế enzyme xanthine oxidase trong ống nghiệm

Một công trình nghiên cứu đã tiến hành đánh giá chi tiết dịch chiết lá cây quao nước đối với enzyme xanthine oxidase thông qua các phép thử sinh hóa và tính toán mô phỏng [1].

Nghiên cứu sử dụng mẫu lá quao nước thu hái từ tự nhiên, sau đó chiết tách phân đoạn bằng các dung môi hữu cơ khác nhau [1]. Tại nồng độ 100 microg/mL, phân đoạn ethyl acetate thể hiện tỷ lệ ức chế XO đạt 78,57 ± 3,85% với giá trị IC50 là 55,93 ± 5,73 microg/mL [1]. Tương tự, phân đoạn butanol ở cùng nồng độ ức chế XO đạt 69,43 ± 8,68% với giá trị IC50 là 70,17 ± 7,98 microg/mL [1].

Từ các phân đoạn tiềm năng, nhóm tác giả phân lập và xác định cấu trúc 6 hợp chất thứ cấp chính gồm: axit trans-4-methoxycinnamic (chất 3), axit trans-3,4-dimethoxycinnamic (chất 4), axit p-coumaric (chất 5), martynoside (chất 6), 6-O-(p-methoxy-E-cinnamoyl)-ajugol (chất 7) và flavonoid scolymoside (chất 17) [1]. Tất cả 6 chất này đều ức chế mạnh XO với dải giá trị IC50 từ 19,34 ± 1,63 muM đến 64,50 ± 0,94 muM [1].

Phân tích động học enzyme ghi nhận các chất 3, 4, 5, 7 và scolymoside (17) ức chế XO theo cơ chế cạnh tranh, tương tự cơ chế của thuốc allopurinol [1]. Riêng hợp chất martynoside (6) thể hiện kiểu ức chế hỗn hợp [1]. Kết quả mô phỏng docking phân tử cho thấy liên kết hydro đóng vai trò quan trọng; trong đó scolymoside (17) tạo liên kết hydro với amino acid Mos3004, đạt năng lượng liên kết thấp nhất là -18,3286 kcal/mol, hoàn toàn tương ứng với hoạt tính ức chế mạnh nhất của chất này (IC50 đạt 19,34 ± 1,63 muM) [1]. Công trình này đồng thời lần đầu tiên phân lập được 9 hợp chất mới từ cây quao nước [1].

Bằng chứng về iridoid glycoside và các hoạt tính sinh học khác

Nghiên cứu công bố năm 2021 tập trung làm rõ cấu trúc hóa học và tiềm năng của các iridoid phân lập từ cây quao nước sinh trưởng tại rừng ngập mặn Việt Nam [2]. Trước đó, 4 hợp chất catalpol iridoid tự nhiên đã được tách chiết từ loài cây này [2].

Trong công trình này, 10 dẫn xuất bán tổng hợp từ các iridoid tự nhiên của quao nước đã được tạo ra để nghiên cứu cấu trúc phân tử [2]. Các tác giả đã tiến hành thử nghiệm gắn kết phân tử (molecular docking) với hai protein enzyme chuyển hóa đường gồm alpha-glucosidase từ củ cải đường và oligo-1,6-glucosidase [2]. Thử nghiệm dùng các thuốc điều trị đái tháo đường týp 2 thương mại là acarbose, miglitol và voglibose làm chất đối chứng để so sánh tiềm năng làm chậm hấp thu carbohydrate [2]. Dù vậy, dữ liệu mới ghi nhận ở mô hình mô phỏng protein trên máy tính, chưa triển khai trên cơ thể sinh vật sống [2].

Một công bố khác vào năm 2018 thu thập mẫu lá và vỏ cây quao nước tại rừng ngập mặn tỉnh Sóc Trăng, Việt Nam để phân tích hoạt chất [4]. Nghiên cứu đã phân lập được hai hợp chất cycloartane mới là dolichandrone A (1) và dolichandrone B (2), cùng hai iridoid mới là [6-O-[(E)-4-methoxycinnamoyl]-1beta-hydroxy-dihydrocatalpolgenin (3) và 6-O-[(E)-4-methoxycinnamoyl]-1alpha-hydroxy-dihydrocatalpolgenin (4), kèm theo 4 iridoid đã biết (5-8) [4].

Khi đánh giá độc tính tế bào in vitro của các chất 1, 2, 5 và 7 trên 4 dòng tế bào ung thư người (KB, Lu, HepG2 và MCF7), kết quả cho thấy chỉ có duy nhất chất dolichandrone B (2) thể hiện hoạt tính gây độc tế bào đáng kể trên dòng tế bào KB với giá trị IC50 là 18,77 muM [4]. Các chất còn lại không ghi nhận hoạt tính rõ rệt trên các dòng thử nghiệm [4].

Đến năm 2025, một nghiên cứu tiếp tục phân lập từ phân đoạn ethyl acetate của quao nước ba hợp chất gồm beta-sitosterol (lần đầu tìm thấy ở loài này), 6-O-trans-p-coumaroyl ajugol và 6-O-[(E)-4-methoxycinnamoyl] catalpol [3]. Sau khi tổng hợp dữ liệu, 30 hợp chất có hoạt tính sinh học từ cây đã được sàng lọc, trong đó flavonoid luteolin dự đoán tương tác với số lượng protein liên quan đến viêm phế quản mạn tính cao nhất [3].

Phân tích mạng lưới ghi nhận 66 gen mục tiêu giao thoa giữa quao nước và bệnh viêm phế quản mạn tính, với các đích protein cốt lõi như TNF, AKT1, SRC, EGFR, IL2, MMP-9, HSP90AA1 và PTGS2 [3]. Thử nghiệm thực tế trong phòng thí nghiệm xác nhận chiết xuất ethanol của quao nước có khả năng ức chế sản sinh nitric oxide (NO) do LPS kích thích với IC50 là 25,34 mug/mL [3]. Tại nồng độ 100 mug/mL, chiết xuất ethanol ức chế tạo cytokine TNF-alpha đạt 71,67% và ức chế IL-1beta đạt 90,22% [3].

Giới hạn cốt lõi của các nghiên cứu hiện tại

Toàn bộ các dữ liệu tích cực kể trên đều xuất phát từ thử nghiệm trong ống nghiệm (in vitro), trên đĩa nuôi cấy tế bào hoặc bằng các phần mềm mô phỏng tin sinh học (in silico) [1], [2], [4], [3].

Môi trường phòng thí nghiệm loại bỏ hoàn toàn các rào cản sinh học thực tế. Khi một dịch chiết thô hoặc hợp chất đơn lẻ đi vào cơ thể người qua đường uống, chúng phải trải qua quá trình phân hủy bởi dịch vị dạ dày, sự chuyển hóa qua hệ vi sinh đường ruột và vòng tuần hoàn đầu tiên tại gan.

Hiện tại, chưa có tài liệu nào công bố sinh khả dụng của các iridoid hay flavonoid từ quao nước đạt nồng độ bao nhiêu trong máu người sau khi uống. Do đó, việc một hoạt chất ức chế tốt enzyme XO hoặc ức chế sản sinh cytokine gây viêm trong đĩa petri không đồng nghĩa với việc uống nước sắc lá quao nước sẽ hạ được axit uric hay chữa khỏi bệnh [1], [3].

Đồng thời, cây quao nước phân bố tự nhiên tương đối hẹp, các nghiên cứu hóa thực vật và dược lý vẫn còn ở giai đoạn sơ khởi [2]. Các báo cáo hiện tại tuyệt đối chưa đủ cơ sở để ứng dụng làm phác đồ điều trị thay thế thuốc tây y.

Những hiểu lầm thường gặp khi dùng thảo dược tự nhiên

Hiểu lầm lớn nhất là quan niệm "thảo dược tự nhiên thì an toàn và dùng bao nhiêu cũng được". Trong các phân đoạn dịch chiết của quao nước có chứa nhiều nhóm hoạt chất đa dạng chưa được tinh chế hoàn toàn [1], [4]. Uống dịch chiết thô tự sắc nấu có thể nạp vào cơ thể nhiều tạp chất không mong muốn.

Một số người bệnh khi nghe thông tin quao nước hỗ trợ tiểu đường hoặc giảm axit uric đã tự ý bỏ thuốc điều trị chỉ định để uống nước lá cây [1], [2]. Điều này tiềm ẩn rủi ro bùng phát đợt viêm khớp gút cấp hoặc tăng đường huyết mất kiểm soát, gây biến chứng nghiêm trọng.

Ngoài ra, việc nhầm lẫn giữa kết quả ức chế tế bào ung thư KB trong ống nghiệm thành "cây quao nước trị được ung thư" là sự suy diễn sai lệch [4]. Hoạt tính độc tế bào trong ống nghiệm chỉ là bước sàng lọc ban đầu nhằm tìm kiếm khung cấu trúc cho nghiên cứu hóa dược tương lai [4].

Những nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Cho đến nay, chưa có bất kỳ dữ liệu khoa học nào nghiên cứu về mức độ an toàn của cây quao nước trên phụ nữ mang thai, phụ nữ cho con bú, trẻ em cũng như người cao tuổi. Dữ liệu thực nghiệm hiện có chỉ thực hiện trên mẫu hóa chất, mô hình máy tính và dòng tế bào cô lập [1], [2], [4], [3]. Vì vậy, phụ nữ có thai và cho con bú tuyệt đối không nên tự ý dùng các bài thuốc truyền miệng từ loại cây này để tránh nguy cơ kích ứng hoặc độc tính tiềm ẩn.

Người mắc các bệnh lý mạn tính như suy thận, suy gan hoặc viêm loét dạ dày cần thận trọng tối đa. Các hoạt chất thực vật khi đào thải có thể tạo thêm gánh nặng cho chức năng gan và thận đang bị tổn thương.

Những người đang dùng thuốc điều trị hạ axit uric (như allopurinol), thuốc hạ đường huyết hoặc thuốc chống viêm tuyệt đối không tự ý kết hợp với nước sắc quao nước. Các thành phần trong cây có cơ chế tác động tương đồng hoặc cạnh tranh lên cùng loại enzyme có thể làm thay đổi dược động học của thuốc chỉ định, gây tương tác thuốc nguy hiểm [1], [2].

Ứng dụng thực tế và khuyến nghị an toàn

Đối với người quan tâm đến các loại thảo dược rừng ngập mặn như quao nước, cách tiếp cận hợp lý nhất là xem đây là đối tượng tiềm năng của ngành nghiên cứu dược liệu học trong tương lai [1], [2].

Các nghiên cứu khoa học hiện chưa thiết lập bất kỳ liều dùng an toàn, thời điểm sử dụng hay quy trình bào chế đạt chuẩn nào cho người sử dụng [1], [4], [3]. Do đó, người dân không nên tự ý tìm kiếm lá, vỏ cây quao nước để phơi khô sắc uống thay trà hằng ngày.

Khi gặp các vấn đề về tăng axit uric máu, triệu chứng gút hoặc rối loạn chuyển hóa đường, người bệnh cần đến các cơ sở y tế để được thăm khám định kỳ và tuân thủ đơn thuốc chuẩn mực. Nếu có nguyện vọng dùng thêm bất kỳ bài thuốc y học cổ truyền nào có nguồn gốc từ cây quao nước, người bệnh bắt buộc phải tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng để được đánh giá nguy cơ tương tác.

Tóm lại, các hoạt chất như iridoid glycoside và flavonoid từ lá cây quao nước đã ghi nhận những tác động ức chế enzyme XO và ức chế phản ứng viêm đáng chú ý trong môi trường phòng thí nghiệm [1], [3]. Dù vậy, khoảng cách từ đĩa nuôi cấy in vitro đến đơn thuốc điều trị trên người còn rất xa, đòi hỏi thêm nhiều nghiên cứu độc tính và thử nghiệm lâm sàng bài bản trước khi đưa ra bất kỳ kết luận ứng dụng y học nào.