Cúc tần và sài hồ nam là hai loại cây quen thuộc trong dân gian Việt Nam. Người dân hay dùng chúng để giải cảm, nấu nước xông hoặc đun nước uống mỗi khi nhức đầu, sốt nhẹ. Tuy nhiên, do hình dáng lá và hoa thoạt nhìn có nét tương đồng, không ít người nhầm lẫn hai cây này là một, hoặc dùng thay thế tùy tiện trong các bài thuốc gia truyền.
Thực tế, lá cúc tần và sài hồ nam thuộc hai loài thực vật khác nhau, mang đặc điểm di truyền, môi trường sống và hoạt tính sinh học riêng biệt. Cúc tần chính là loài Pluchea indica, trong khi sài hồ nam thường dùng trong y học dân gian Việt Nam tương ứng với loài lức cây (Pluchea pteropoda) [1, 3]. Nhận biết đúng nguồn gốc giúp sử dụng thảo dược an toàn, đạt hiệu quả mong muốn và tránh nhầm lẫn tai hại.
Nguồn gốc phân loại và môi trường sinh thái
Cả hai loài đều thuộc chi Pluchea, họ Cúc (Asteraceae), phân họ Inuleae [1, 2]. Chi Pluchea gồm khoảng 80 loài, trong đó có một số loài được dùng làm dược liệu lâu đời [1]. Do cùng chung một chi thực vật, cúc tần (Pluchea indica) và sài hồ nam (Pluchea pteropoda) có mối quan hệ họ hàng rất gần gũi về mặt phân loại học thực vật [1, 3].
Điểm khác nhau cơ bản nằm ở môi trường phân bố tự nhiên và đặc điểm thích nghi sinh thái. Cúc tần (Pluchea indica) là loài cây bụi phân nhánh rộng, bản địa của vùng nhiệt đới châu Á và bắc Australia [1]. Cây có khả năng chịu mặn tốt, sinh sống nhiều ở các vùng đất ngập mặn ven biển, các đảo Thái Bình Dương và đôi khi mọc ở các vùng rừng đồi thấp [1, 4]. Cây thường được người dân trồng làm hàng rào quanh nhà tại các vùng nông thôn.
Trong khi đó, loài sài hồ nam (Pluchea pteropoda) là cây gắn liền với hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển Nam Trung Quốc và bán đảo Đông Dương [2]. Loài này sinh sống đặc thù tại các bãi cát ven biển, khe đá hoặc những nơi ngập nước khi thủy triều dâng cao [2]. Do điều kiện sống chịu sóng gió và ngập mặn khắc nghiệt hơn, thân và lá của loài này phát triển những đặc điểm thích nghi hình thái khác với cúc tần trồng trên đất liền.
Khác biệt về đặc điểm di truyền qua nghiên cứu hệ gen
Các nghiên cứu sinh học phân tử hiện đại đã làm rõ ranh giới di truyền giữa hai loài thực vật này, chấm dứt những tranh cãi về mặt phân loại.
Một nghiên cứu công bố năm 2017 giải trình tự toàn bộ hệ gen lục lạp của cúc tần (Pluchea indica) thu thập tại Hải Khẩu, Trung Quốc [3]. Kết quả cho thấy hệ gen lục lạp của loài này dài 152.298 cặp bazơ (bp), gồm vùng bản sao đơn lớn (LSC) dài 84.127 bp, vùng bản sao đơn nhỏ (SSC) dài 18.068 bp, và hai vùng lặp đảo chiều (IRS) dài 25.051 bp [3]. Hệ gen lục lạp này dự đoán mã hóa 128 gen, gồm 84 gen mã hóa protein, 36 gen tRNA và 8 gen rRNA, với hàm lượng GC đạt 37,49% [3].
Đến năm 2021, một nghiên cứu khác công bố hệ gen lục lạp hoàn chỉnh của cây sài hồ nam (Pluchea pteropoda) từ mẫu thu thập tại Hải Nam, Trung Quốc [2]. Hệ gen lục lạp của P. pteropoda dài 152.300 bp, với vùng LSC dài 84.127 bp, vùng SSC dài 18.093 bp và vùng IRS dài 25.040 bp [2]. Tổng số gen dự đoán là 111 gen đặc hữu, gồm 79 gen mã hóa protein, 28 gen tRNA và 4 gen rRNA, với hàm lượng GC đạt 37,5% [2].
Ngoài ra, nghiên cứu năm 2018 phát triển 40 cặp mồi chỉ thị phân tử EST-SSR từ dữ liệu phiên mã của Pluchea indica, trong đó có 17 cặp mồi khuếch đại thành công và cho thấy tính đa hình rõ rệt với 1 đến 9 alen trên mỗi locus [1]. Khi kiểm tra chéo, có 17 locus mồi khuếch đại thành công trên mẫu Pluchea pteropoda [1]. Sự sai khác về kích thước bộ gen, số lượng gen dự đoán và biến dị các locus chỉ thị là bằng chứng khoa học chuẩn xác giúp phân biệt rõ hai loài này ở cấp độ phân tử [1, 3, 4].
Hoạt tính dược lý và công dụng dân gian của từng loài
Dù đều được dùng làm thuốc, dược tính ghi nhận trên từng loài có những nét đặc thù riêng cần lưu ý.
Đối với cúc tần (Pluchea indica), y học cổ truyền ghi nhận dược liệu này có tác dụng chống oxy hóa, chống loét, giảm đau, kháng viêm, kháng khuẩn, chống ung thư và diệt amip [1]. Chiết xuất methanol từ lá có tác dụng kháng viêm, còn dịch chiết nước có hoạt tính chống ung thư [3]. Nghiên cứu phân đoạn chiết xuất từ lá cúc tần phát hiện năm dẫn xuất axit caffeoylquinic có khả năng ức chế enzym maltase đường ruột [3]. Ngoài ra, hoạt chất beta-sitosterol chiết xuất từ rễ cây cúc tần có khả năng làm giảm độc tính của nọc rắn hổ lục Russell và rắn hổ mang một mắt kính [1]. Một nghiên cứu năm 2017 còn bào chế hạt nano từ chiết xuất lá cúc tần với kích thước 259-306 nm để ứng dụng làm bình xịt miệng hỗ trợ làm lành tổn thương niêm mạc [4].
Đối với sài hồ nam (Pluchea pteropoda), tại Việt Nam, loài thảo dược này từ lâu đã được nhân dân sử dụng làm thuốc dân gian chuyên dùng để chữa sốt [2]. Toàn cây có đặc tính hạ sốt và chống viêm hữu hiệu [2]. Các nghiên cứu dược lý thực nghiệm cũng ghi nhận chiết xuất methanol từ vỏ và lá của cây sài hồ nam thể hiện hoạt tính kháng khuẩn nhất định [2].
Hiểu lầm thường gặp trong bài thuốc dân gian
Hiểu lầm phổ biến nhất là xem cúc tần và sài hồ nam có thể thay thế hoàn toàn cho nhau trong mọi bài thuốc. Người dân thường nghĩ rằng hễ cùng tên gọi thảo dược dân dã hoặc cùng họ Cúc thì nấu uống như nhau.
Thực tế, sài hồ nam (P. pteropoda) trong các bài thuốc cổ truyền thường được thu hái rễ hoặc toàn cây để chủ trị cảm mạo phát sốt, nhức đầu nghẹt mũi [2]. Trong khi đó, cúc tần (P. indica) thường được dùng cả lá và ngọn non, xuất hiện nhiều trong các phương thuốc xông hơi giải biểu, đắp ngoài chữa đau nhức xương khớp hoặc dùng trong các vấn đề liên quan đến tiêu hóa và viêm loét [1, 4].
Việc dùng lẫn lộn giữa hai loài cây này tuy ít gây ngộ độc cấp tính do cùng thuộc chi Pluchea, nhưng sẽ làm giảm tác dụng mong muốn của thang thuốc. Dùng sài hồ nam thay cho cúc tần khi cần các hoạt chất ức chế men đường ruột hoặc giảm loét có thể không mang lại kết quả rõ ràng [1, 4].
Ai nên thận trọng khi sử dụng?
Dù là thảo dược tự nhiên lành tính, không phải đối tượng nào cũng có thể tùy tiện sắc uống nước lá cúc tần hay sài hồ nam mỗi ngày.
Những người có tiền sử dị ứng với các loại cây họ Cúc (Asteraceae) cần hết sức thận trọng khi tiếp xúc hay sử dụng qua đường uống, tránh nguy cơ nổi mẩn ngứa hoặc kích ứng niêm mạc. Phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ không nên tự ý dùng nước sắc cô đặc của các loại lá này khi chưa có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa y học cổ truyền.
Người đang dùng thuốc điều trị đái tháo đường hoặc các bệnh mạn tính về đường tiêu hóa cần lưu ý: chiết xuất lá cúc tần có hoạt tính ức chế men maltase [3], do đó có thể gây ảnh hưởng nhẹ đến quá trình hấp thu tinh bột và đường tại ruột non. Hãy trao đổi trước với bác sĩ điều trị để tránh tương tác bất lợi.
Hướng dẫn nhận biết và áp dụng trong đời sống
Để tránh hái nhầm ngoài tự nhiên, người dùng có thể dựa vào một số điểm phân biệt cơ bản sau:
- Địa điểm thu hái: Cúc tần mọc phổ biến ở đất vườn, ven bờ rào vùng đồng bằng hoặc đồi thấp [1]. Sài hồ nam chủ yếu mọc hoang dại ở các bãi cát ẩm mặn, khe đá ven biển hoặc khu vực đầm lầy ngập mặn ven biển Nam Bộ và miền Trung [2].
- Mùi vị và đặc điểm thân lá: Lá cúc tần mỏng hơn, có mùi thơm hắc đặc trưng của tinh dầu giàn giụa, vị đắng hơi cay. Lá sài hồ nam thường dày ráp hơn do sống ở môi trường gió mặn ven biển.
Khi dùng lá cúc tần làm thuốc xông cảm, có thể hái một nắm lá bánh tẻ tươi rửa thật sạch bụi bẩn, phối hợp cùng các loại lá thơm khác như lá bưởi, lá chanh, sả để nấu nước xông toàn thân giúp ra mồ hôi. Trường hợp dùng uống, chỉ nên dùng lượng lá tươi vừa phải (khoảng 15-20g) rửa sạch, hãm nước sôi uống trong ngày, không nên lạm dụng dài ngày thay cho nước lọc thường quy.
Cúc tần và sài hồ nam là hai dược liệu quý của y học cổ truyền Việt Nam, sở hữu nhiều hoạt tính sinh học có giá trị được khoa học kiểm chứng [1, 3]. Nhận diện đúng từng cây và sử dụng chừng mực, đúng mục đích sẽ giúp phát huy tối đa lợi ích chữa bệnh của thảo dược quanh nhà. Khi có bệnh lý phức tạp, người bệnh cần thăm khám y tế thay vì tự điều trị bằng các bài thuốc dân gian truyền miệng.




