Nhiều người có thói quen tìm kiếm các loại cây cỏ tự nhiên để nấu nước uống mỗi ngày nhằm bồi bổ sức khỏe hoặc giảm đau nhức xương khớp. Dây gân, một loài thực vật thuộc chi Ventilago (họ Rhamnaceae), là vị thuốc dân gian quen thuộc thường xuất hiện trong các bài thuốc sắc uống [3, 6]. Tuy nhiên, việc tự ý hái dùng hoặc sử dụng quá mức mà không nắm rõ ranh giới an toàn có thể tiềm ẩn những hiểm họa khó lường đối với gan và thận.
Hiện nay, các nghiên cứu khoa học hiện đại vẫn chưa thiết lập một ngưỡng gam cụ thể tuyệt đối an toàn cho việc sắc uống dây gân mỗi ngày. Mặc dù y học dân gian ghi nhận một số công dụng của các loài thuộc chi này, dữ liệu độc tính học và thử nghiệm lâm sàng chuẩn mực trên người vẫn còn nhiều khoảng trống. Do đó, người dùng tuyệt đối không nên xem đây là thảo dược có thể uống tùy tiện thay thế nước lọc hàng ngày.
Chi dây gân và vị trí trong y học cổ truyền
Dây gân thuộc chi thực vật Ventilago, một chi gồm nhiều loài cây bụi dạng leo nằm trong họ Rhamnaceae (họ Táo ta) [3, 6]. Họ thực vật này phân bố rộng rãi tại các vùng rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới, từ rừng mưa cho đến những vùng núi đá vôi khô cằn [3, 6]. Trong kinh nghiệm dân gian khu vực châu Á và châu Phi, nhiều bộ phận của các loài cây thuộc chi Ventilago đã được thu hái để làm thuốc sắc hoặc chế phẩm bôi ngoài [1].
Chẳng hạn, tại Đài Loan, thân cây của loài Ventilago leiocarpa từ lâu đã được nhân dân dùng như một phương thuốc dân gian hỗ trợ trị bệnh thấp khớp, viêm gan và đau dây thần kinh [1]. Rễ của loài thảo dược này cũng được tận dụng triệt để nhờ chứa nhiều đặc tính dược liệu quý giá [2]. Tại Ấn Độ, vỏ rễ cây Ventilago madraspatana (hay còn gọi là Ventilago maderspatana) được dùng với vai trò là chất hỗ trợ tiêu hóa, tống hơi, thuốc bổ và chất kích thích [3, 4]. Bột vỏ thân của loài này khi trộn cùng dầu mè còn được dùng ngoài da để chữa các chứng bệnh da liễu và ngứa ngáy [1].
Tại Thái Lan, người dân bản địa cũng có lịch sử dùng nước sắc từ giác gỗ và thân cây Ventilago harmandiana [1]. Ngoài ra, thân cây Ventilago denticulata được sắc uống trong y học dân gian Thái Lan để lợi tiểu, trị viêm khớp, đồng thời giúp hạ cholesterol và đường huyết, trong khi lá cây thường được chế biến thành trà uống [1]. Dù đa dạng về kinh nghiệm sử dụng, mỗi vùng miền lại dùng các bộ phận khác nhau như thân, rễ hoặc lá với phương pháp sao chế rất riêng biệt [3, 8].
Hoạt chất tự nhiên và cơ chế sinh học được ghi nhận
Để hiểu rõ hơn về tác động của cây đối với cơ thể, các nhà khoa học đã tiến hành phân lập nhiều hợp chất tự nhiên từ các loài thuộc chi dây gân [1]. Nghiên cứu năm 2023 trên vỏ thân loài Ventilago harmandiana đã phát hiện 7 hợp chất mới, gồm 5 hợp chất pyranonaphthoquinone (được đặt tên là ventilanone L-P) và 2 hợp chất naphthoquinone (ventilanone Q và R), cùng với 15 hợp chất đã biết khác [1].
Khi thử nghiệm hoạt tính sinh học trong phòng thí nghiệm, một số hợp chất này (hợp chất 12, 13, 15 và 16) cho thấy khả năng ức chế sự hình thành hợp bào chống lại virus HIV-1 với giá trị nồng độ hiệu quả bán phần (EC50) dao động từ 9,9 đến 47 microM và chỉ số chọn lọc (SI) từ 2,4 đến 4,5 [1]. Bên cạnh đó, các nghiên cứu hóa thực vật học trên chiết xuất hữu cơ của loài Ventilago maderspatana tại Ấn Độ cũng xác định sự có mặt của tannin và các hợp chất phenolic [3].
Những hoạt chất tự nhiên như tannin, hợp chất phenolic và naphthoquinone đóng vai trò tạo nên dược tính sinh học kháng khuẩn, kháng viêm hay chống oxy hóa của cây thảo dược [3, 4]. Tuy nhiên, các chất này khi đi vào cơ thể người với lượng lớn có thể gây kích ứng đường tiêu hóa hoặc chuyển hóa tạo áp lực cho các tế bào bài tiết. Việc hiểu rõ cấu trúc hợp chất giúp các nhà nghiên cứu nhận định tiềm năng y học, nhưng chưa thể khẳng định rằng việc đun nấu thô tại nhà sẽ giải phóng đúng nồng độ mong muốn [1].
Bằng chứng khoa học: Đâu là ngưỡng liều lượng an toàn?
Câu hỏi lớn nhất của người dùng luôn là: Uống bao nhiêu gam khô mỗi ngày là an toàn? Khi tra cứu các dữ liệu khoa học đã công bố, chưa có thử nghiệm lâm sàng nào đo lường độc tính đơn liều hay đa liều của nước sắc dây gân nguyên chất trên người để đưa ra con số chính xác. Một nghiên cứu lâm sàng pha I năm 2013 tại Trung Quốc từng tiến hành đánh giá khả năng dung nạp liều trên 46 người tình nguyện khỏe mạnh nhưng là đối với chế phẩm cao hồng hoa mẫu đơn (safflower peony ointment), ghi nhận liều tối đa an toàn đơn liều là 15,24 g dược liệu thô và đa liều liên tục trong 7 ngày là 8,62 g dược liệu thô [4]. Tuy nhiên, đây là dữ liệu của bài thuốc khác hoàn toàn, không thể gán ghép hay áp dụng làm tiêu chuẩn sang cho dây gân [4].
Các dữ liệu hiện tại về chi Ventilago chủ yếu tập trung vào phân tích di truyền học thực vật, cấu trúc phân tử và thử nghiệm kháng khuẩn, kháng virus trên ống nghiệm [3, 4, 6, 8]. Điển hình là nghiên cứu năm 2023 giải trình tự bộ gen lục lạp hoàn chỉnh của họ Rhamnaceae cho thấy sự đa dạng hình thái và di truyền cao, trong đó loài Ventilago leiocarpa mới chỉ bước đầu được xác lập vị trí di truyền [5]. Tiếp đó, nghiên cứu năm 2024 giải mã thành công hệ gen ty thể của cây Ventilago leiocarpa với tổng chiều dài 331.839 cặp base, phân tích 36 gen mã hóa protein nhưng hoàn toàn là nghiên cứu di truyền sinh học cơ bản, không đo lường liều dùng hay độ an toàn trên cơ thể sống [2].
Do đó, ngưỡng an toàn chính thức của thảo dược dây gân chưa hề được xác lập bằng con số cụ thể qua thử nghiệm y khoa thực chứng. Mọi con số truyền miệng trong dân gian chỉ mang tính tham khảo theo kinh nghiệm địa phương. Việc thiếu hụt thử nghiệm độc học lâm sàng đồng nghĩa với việc người dùng không thể biết được liều lượng nào có thể bắt đầu kích hoạt phản ứng độc cấp tính hoặc ngộ độc mạn tính trong cơ thể.
Nguy cơ ngộ độc tích lũy khi sử dụng dài ngày
Ngộ độc tích lũy là hiện tượng dược chất được nạp vào cơ thể chậm đào thải, dần dần lắng đọng và tăng nồng độ trong máu hay mô cơ quan qua từng ngày, cho đến khi chạm ngưỡng gây độc. Ngay cả với các loại thuốc tân dược được tinh chế đạt chuẩn, việc tích lũy nồng độ vượt ngưỡng vẫn thường xuyên xảy ra ở những người có tốc độ đào thải kém hoặc suy giảm chức năng nội tạng [6]. Một ca lâm sàng điển hình năm 2023 báo cáo về nữ bệnh nhân 67 tuổi mắc xơ gan mật nguyên phát khi dùng thuốc kháng nấm isavuconazole liều tiêu chuẩn đã bị tăng dần nồng độ đáy của thuốc trong huyết tương lên mức 17,8 mg/L (vượt xa khoảng an toàn 1,0-5,13 mg/L), làm tăng men gan men gamma-glutamyl transferase và buộc phải tạm ngưng rồi hạ liều thông qua theo dõi nồng độ thuốc trị liệu [6].
Nước sắc thảo dược thô như dây gân cũng tuân theo quy luật chuyển hóa tương tự tại gan và thận. Trong tự nhiên, các loài thuộc chi Ventilago chứa các hợp chất naphthoquinone và phức hợp tannin [3, 4]. Nếu người dân đun nước uống thay trà liên tục từ tháng này qua tháng khác, gan và thận phải làm việc liên tục để chuyển hóa và lọc bỏ các chất chuyển hóa này. Khi quá trình bài tiết không kịp tốc độ hấp thu, các chất này sẽ tích tụ dần dần.
Biểu hiện ngộ độc tích lũy thường không xuất hiện rầm rộ ngay sau khi uống vài ngụm nước sắc. Ngược lại, tổn thương diễn ra âm thầm thông qua việc tăng men gan nhẹ, tổn thương tế bào ống thận, suy giảm mức lọc cầu thận hoặc viêm gan nhiễm độc mạn tính. Đến khi người bệnh xuất hiện triệu chứng rõ rệt như mệt mỏi kéo dài, vàng mắt, chán ăn hoặc phù nề thì các tế bào gan, thận có thể đã chịu tổn thương cấu trúc nghiêm trọng.
Những hiểu lầm thường gặp về cây thuốc nam
Hiểu lầm phổ biến nhất trong cộng đồng là tư tưởng "cây cỏ tự nhiên hoàn toàn lành tính, uống không bổ ngang cũng bổ dọc". Rất nhiều bệnh nhân tự ý hái cành cây, rễ cây trong rừng hoặc mua rễ khô không rõ nguồn gốc về chặt nhỏ sắc uống đậm đặc. Cần hiểu rằng, bất kỳ loài thực vật nào có dược tính sinh học cao (như diệt virus, kháng khuẩn) đều là con dao hai lưỡi [3, 4]. Càng có hoạt tính mạnh trong ống nghiệm thì khi đưa vào cơ thể sống càng đòi hỏi sự kiểm soát khắt khe về liều lượng để tránh độc tính tế bào [1].
Hiểu lầm thứ hai là nhầm lẫn các loài trong cùng một chi thực vật. Chi Ventilago bao gồm nhiều loài khác nhau như Ventilago leiocarpa, Ventilago harmandiana, Ventilago madraspatana, Ventilago denticulata [3, 4, 6]. Mỗi loài mọc ở vùng địa lý thổ nhưỡng khác biệt, tích lũy hàm lượng hợp chất naphthoquinone và tannin khác nhau [3, 4]. Một liều lượng áp dụng cho loài này trong kinh nghiệm dân gian Thái Lan hay Đài Loan hoàn toàn không thể đại diện hay áp đặt nguyên xi cho loài dây gân thu hái tại Việt Nam [1].
Hiểu lầm thứ ba là cho rằng có thể nấu nước sắc dây gân uống thay nước lọc cả ngày để thanh nhiệt, giải độc cơ thể. Nước lọc thông thường chỉ cung cấp nước và các khoáng chất cơ bản, trong khi nước sắc thảo dược là một dung dịch chứa hàng chục đến hàng trăm hợp chất hóa học hòa tan chưa rõ tương tác [3, 4]. Việc uống thay nước lọc sẽ biến gan và thận thành "nhà máy xử lý hóa chất" quá tải không ngừng nghỉ suốt 24 giờ mỗi ngày.
Những ai cần đặc biệt thận trọng khi tiếp cận?
Vì dữ liệu an toàn trên người còn rất hạn chế, một số nhóm đối tượng tuyệt đối phải thận trọng và không tự ý sắc uống dây gân tại nhà. Đầu tiên là người có bệnh nền suy giảm chức năng gan, thận như viêm gan mạn tính, xơ gan hoặc suy thận mạn. Khi chức năng bài tiết của gan và thận bị suy yếu, nguy cơ ngộ độc do tích lũy các hợp chất thực vật tăng lên gấp nhiều lần so với người bình thường, dễ đẩy bệnh nhân vào tình trạng suy tạng cấp [6].
Nhóm đối tượng thứ hai là trẻ nhỏ. Một nghiên cứu năm 2020 về thực hành dùng thuốc đường uống ở khoa nhi cho thấy việc dùng thuốc cho trẻ em gặp nhiều rủi ro lớn do trẻ thiếu các dạng bào chế phù hợp theo độ tuổi và thể trạng sinh lý non nớt [7]. Dây gân chưa từng được nghiên cứu liều dùng cho trẻ em, do đó phụ huynh tuyệt đối không được tự tiện sắc nước dây gân cho trẻ uống để trị rôm sảy hay hạ sốt theo lời mách bảo dân gian [2, 3].
Nhóm thứ ba là phụ nữ đang mang thai hoặc người đang nuôi con bằng sữa mẹ. Hiện tại hoàn toàn không có bất kỳ nghiên cứu nào khẳng định độ an toàn của dây gân đối với sự phát triển của thai nhi hay khả năng hoạt chất tiết qua sữa mẹ. Nhóm cuối cùng là những người đang sử dụng các loại thuốc điều trị bệnh mạn tính; các hoạt chất phenolic hay naphthoquinone từ dây gân có thể cạnh tranh chuyển hóa với thuốc tân dược tại gan, làm biến đổi nồng độ thuốc điều trị và gây nguy hiểm đến tính mạng [3, 4, 5].
Hướng dẫn dùng an toàn và khuyến cáo thực tế
Để khai thác thảo dược một cách an toàn và tránh rủi ro cho sức khỏe, người dân nên tuân thủ các nguyên tắc y tế cơ bản thay vì làm theo các mẹo truyền miệng vô căn cứ. Việc sử dụng bất kỳ vị thuốc nam nào, bao gồm cả dây gân, đều cần phải xuất phát từ chỉ định cụ thể của người có chuyên môn y học cổ truyền.
Đầu tiên, về nguồn gốc thảo dược, cần sử dụng dược liệu khô đã qua kiểm định danh tính thực vật rõ ràng. Việc tự ý hái cây rừng rất dễ dẫn đến ngộ độc nhầm lẫn các loài thực vật chứa độc tố cực mạnh có hình thái thân leo tương tự. Dược liệu thô cần được phơi sấy khô đúng kỹ thuật, bảo quản nơi khô ráo, tránh nấm mốc sinh độc tố mycotoxin nguy hiểm.
Thứ hai, về liều lượng và thời gian, người dùng chỉ nên dùng ở mức lượng vừa phải dưới sự hướng dẫn của bác sĩ y học cổ truyền. Tuyệt đối không được uống nước sắc liên tục kéo dài nhiều tuần hay nhiều tháng mà không có khoảng nghỉ để cơ thể đào thải. Định kỳ kiểm tra chức năng men gan và chức năng lọc thận nếu có ý định dùng các bài thuốc cổ truyền trong thời gian dài. Khi cơ thể xuất hiện các dấu hiệu bất thường như buồn nôn, chướng bụng, vàng mắt, tiểu sẫm màu hoặc phát ban, cần ngừng uống ngay lập tức và đến cơ sở y tế gần nhất.
Tóm lại, dây gân là vị thuốc dân gian chứa nhiều hợp chất sinh học có tiềm năng nhưng chưa hề có ngưỡng liều an toàn chuẩn mực được nghiên cứu lâm sàng trên người [3, 4]. Việc tự ý sắc uống mỗi ngày với liều lượng cao tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc tích lũy, đặc biệt nguy hiểm cho gan và thận [6]. Để bảo vệ sức khỏe bản thân, hãy luôn dùng lượng vừa phải theo đúng hướng dẫn của thầy thuốc chuyên môn, lắng nghe cơ thể và duy trì một chế độ sinh hoạt cân bằng, khoa học.



