Thói quen rắc bột mai mực khi bị đứt tay
Trong dân gian, nhiều người thường giữ thói quen cạo mai mực (ô tặc cốt) thành bột mịn để rắc trực tiếp lên miệng vết thương hở khi bị đứt tay hoặc trầy xước. Mẹo truyền miệng này cho rằng lớp bột trắng sẽ giúp máu ngừng chảy nhanh chóng và làm vết rách mau khô miệng.
Tuy nhiên, liệu kinh nghiệm này có thực sự an toàn dưới góc nhìn y học hiện đại? Các nghiên cứu khoa học cho thấy hiệu quả cầm máu không đến từ toàn bộ khối mai mực thô, mà gắn liền với các thành phần sinh học đặc thù đã qua tinh chế, đồng thời tiềm ẩn nhiều hiểm họa nếu tự ý rắc bột chưa khử trùng lên vết rách mô mềm.
Cơ chế sinh học: Chitin tác động đến đông máu thế nào?
Chitin là một polysaccharide cation tự nhiên hiện diện trong vách tế bào nấm, bộ xương ngoài của giáp xác và lớp vỏ của côn trùng [1]. Hợp chất này cũng là thành phần hữu cơ quan trọng cấu tạo nên cấu trúc mai mực từ thời cổ đại cho đến nay [2]. Về mặt hóa học, chitin là homopolymer liên kết 1-4 của 2-acetamido-2-deoxy-beta-D-glucopyranose, có tính kiềm tự nhiên duy nhất trong các polysaccharide và sở hữu độ tương thích sinh học cao [3].
Cơ chế cầm máu của vật liệu chứa chitin hoạt động thông qua việc kết tụ tế bào máu tại chỗ. Vật liệu chitin bám dính vào tiểu cầu để hình thành phức hợp chitin/tiểu cầu, kích thích sự trùng hợp của các monomer fibrin tạo nên cục máu đông vững chắc [4]. Song song đó, vật liệu này thu hút các mô bào chứa nhiều lysozyme, giúp kích thích nguyên bào sợi sản sinh collagen loại III trong giai đoạn đầu của quá trình hồi phục mô [4]. Ngoài ra, cấu trúc vi mô dạng xốp của vật liệu nguồn gốc tự nhiên giúp thấm hút dịch máu nhanh qua hiệu ứng mao dẫn, tạo điều kiện giữ khối máu đông khu trú tại bề mặt tổn thương [4].
Bằng chứng nghiên cứu: Tinh chế y sinh khác biệt bột thô
Khoa học hiện đại chiết tách và xử lý các dẫn xuất từ mai mực nhằm tìm kiếm giải pháp y tế thay thế, song quy trình này hoàn toàn tách biệt khỏi việc dùng bột thô trực tiếp.
Nghiên cứu năm 2014 đánh giá vật liệu xốp cầm máu kết hợp giữa chitin và mực của mực phủ (CTSH sponge) trên chuột thông qua phẫu thuật mở bụng [3]. Nghiên cứu tiến hành cấy ghép miếng xốp vào dưới da bụng của chuột với liều lượng 135 mg/kg, sau đó lấy mẫu máu từ động mạch chủ bụng tại nhiều thời điểm [3]. Các nhà khoa học kiểm tra các thông số đông máu bao gồm thời gian thrombin (TT), thời gian prothrombin (PT), thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa (APTT), fibrinogen (FIB), yếu tố tiểu cầu 4 (PF4), antithrombin III (AT-III), plasminogen (PLG), sản phẩm thoái hóa fibrin (FDP), D-dimer cùng độ nhớt máu [3]. Kết quả ghi nhận miếng xốp CTSH không gây tác động tiêu cực đáng kể lên hệ thống huyết học của chuột, mở ra tiềm năng phát triển thành vật liệu cầm máu lâm sàng [3].
Năm 2025, một nghiên cứu tổng hợp nanochitosan từ mai mực Sepia kobiensis thông qua quá trình khử khoáng, khử protein để thu chitin, rồi deacetyl hóa tạo chitosan và tạo gel ionrophic [1]. Cấu trúc nanochitosan dạng phiến mỏng được xác nhận qua nhiễu xạ tia X (XRD) với hai đỉnh nhiễu xạ đặc trưng tại 2theta = 18,916 và 23,681 độ [1]. Khi đánh giá in vitro bằng xét nghiệm PT và APTT, vật liệu nano này thể hiện tính tương thích sinh học cao và hoạt động như một chất chống đông máu, cho thấy tiềm năng trong các liệu pháp điều hòa đông máu [1].
Năm 2022, nghiên cứu sulfat hóa dẫn xuất chitosan từ mai mực Sepia kobiensis ghi nhận phân tử này có hoạt tính chống đông khi thử nghiệm trên huyết tương người qua xét nghiệm APTT và PT [5]. Đồng thời, thử nghiệm khuếch tán giếng thạch cho thấy phân tử sulfat hóa có hoạt tính ức chế vi khuẩn chống lại 11 chủng gây bệnh lâm sàng ở người gồm cả vi khuẩn Gram âm và Gram dương [5].
Năm 2014, một nghiên cứu khác chiết xuất chitosan từ mai mực Sepia kobiensis ghi nhận khả năng chống oxy hóa đạt 50,68 - 74,36% ở nồng độ 1-10 mg/ml, khả năng dọn gốc tự do DPPH đạt 46,17% ở nồng độ 10 mg/ml, dọn gốc hydroxyl từ 18,34% đến 62,39% (0,1-3,2 mg/ml) và khả năng tạo phức chelate với ion sắt đạt 49,74 - 73,59% ở nồng độ 1-10 mg/ml [6].
Gần đây, các dạng hạt nano bạc - chitosan từ mai mực Sepia pharaonis có kích thước 15-40 nm thể hiện khả năng ức chế dọn gốc hydro peroxide 84,5% (IC50 18,09 microg/mL) và tạo vòng ức chế kháng khuẩn 21 ± 0,6 mm với Streptococcus mutans, 19 ± 0,2 mm với Staphylococcus aureus, 14 ± 0,1 mm với Escherichia coli, duy trì độ sống tế bào ung thư KB-1 trên 95% ở nồng độ thấp [7]. Một nghiên cứu năm 2024 sử dụng chitosan phosphoryl hóa từ mai mực loài này cũng ghi nhận vòng ức chế 14 ± 0,82 mm đối với Pseudomonas aeruginosa và 14 ± 0,75 mm đối với E. coli ở nồng độ 100%, nhưng không có hoạt tính đối với Candida tropicalis và Streptococcus mutans [8].
Dù vậy, các nghiên cứu này chủ yếu thực hiện trên mô hình phòng thí nghiệm tế bào hoặc động vật nhỏ [1], [3]. Chưa có thử nghiệm lâm sàng trực tiếp trên người nhằm đánh giá việc đắp bột thô mai mực nguyên trạng lên các vết thương hở thông thường.
Giới hạn và hiểu lầm phổ biến
Nhiều người lầm tưởng rằng có thể tán nhuyễn mai mực nhặt từ bờ biển hoặc mua từ tiệm thuốc nam rồi rắc ngay lên vết đứt tay để thay băng gạc vô trùng. Đây là nhận thức sai lệch giữa vật liệu sinh học tinh khiết và dược liệu thô chưa qua chế biến.
Trong các thử nghiệm khoa học, chitin và dẫn xuất của nó phải trải qua quá trình khử khoáng, loại bỏ protein ngoại lai bằng hóa chất nghiêm ngặt để tạo thành màng, miếng xốp vô trùng hoặc hạt nano [1], [5]. Tùy vào biến tính hóa học (như sulfat hóa hay tạo hạt nano), dẫn xuất chitosan từ mai mực thậm chí còn thể hiện tác dụng kéo dài thời gian đông máu thay vì làm đông máu đơn thuần [1], [5]. Bột mai mực thô tự tán tại nhà chứa hàm lượng khoáng vô cơ lớn, không đồng nhất và chưa đạt các tiêu chuẩn y khoa này.
Nguy cơ nhiễm trùng và dị vật vết thương
Rủi ro lớn nhất khi dùng mai mực tự chế là nguy cơ nhiễm trùng tại chỗ và nhiễm trùng huyết. Mai mực có nguồn gốc từ biển, dễ nhiễm các loại bào tử vi khuẩn kỵ khí, vi sinh vật biển và nấm mốc trong quá trình thu gom, phơi sấy thủ công. Khi rắc bột này vào mô rách dưới da, bụi khoáng không tan đóng vai trò như các dị vật li ti.
Cơ thể phản ứng với dị vật bằng cách huy động tế bào viêm, gây mưng mủ, áp-xe và làm chậm đáng kể quá trình biểu mô hóa. Những hạt bột kẹt sâu bên trong còn có thể hình thành các u hạt dị vật, để lại sẹo lồi co rút hoặc đòi hỏi can thiệp ngoại khoa để nạo vét làm sạch vết thương.
Ai cần tuyệt đối tránh xa mẹo dân gian này?
Những người có vết thương sâu, vết thương hở miệng lớn, chảy máu thành tia tuyệt đối không được tự ý rắc bất kỳ loại bột nào lên vùng tổn thương. Trong trường hợp này, việc rắc bột không thể ngăn chặn mất máu mà còn cản trở tầm nhìn của bác sĩ khi cần khâu phục hồi mạch máu.
Người mắc bệnh tiểu đường, bệnh mạch máu ngoại biên hoặc suy giảm miễn dịch cần tránh xa biện pháp này. Vết thương ở các đối tượng này rất khó lành và có nguy cơ hoại tử cao khi tiếp xúc với nguồn vi khuẩn ngoại lai chưa tiệt trùng. Những người có cơ địa dị ứng với hải sản cũng cần cẩn trọng để tránh kích ứng mô mềm.
Hướng dẫn xử lý vết thương đúng chuẩn y khoa
Thay vì tìm kiếm mai mực để rắc lên vết thương, người dân nên tuân thủ các bước sơ cứu vết thương cơ bản đã được xác lập:
- Bước 1: Rửa sạch vùng tổn thương dưới vòi nước chảy hoặc sử dụng dung dịch nước muối sinh lý để loại bỏ bụi bẩn.
- Bước 2: Dùng miếng gạc vô trùng ép trực tiếp lên bề mặt miệng vết thương trong khoảng 3 đến 5 phút để kích hoạt cơ chế đông máu tự nhiên của cơ thể.
- Bước 3: Sát khuẩn xung quanh mép vết thương bằng dung dịch sát trùng y tế tiêu chuẩn, sau đó dán băng cá nhân vô trùng hoặc băng gạc sạch.
- Bước 4: Đối với các vết cắt sâu, mép vết thương há rộng hoặc chảy máu liên tục không cầm sau khi ép chặt, cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được thăm khám và xử lý vô trùng.
Hiệu quả cầm máu và phục hồi mô của chitin từ mai mực là có cơ sở khoa học nhưng chỉ đúng khi được tinh chế và điều chế thành vật liệu sinh học y tế chuyên dụng. Người dân không nên mạo hiểm tự ý tán bột mai mực thô để rắc lên vết đứt tay nhằm tránh các biến chứng nhiễm trùng nguy hiểm.



