Nhiều người truyền tai nhau thịt rắn bổ dưỡng, giúp bồi bổ thể lực và giải độc. Phụ nữ mang thai thường tìm kiếm nguồn đạm quý để tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, ăn thịt bò sát hoang dã tiềm ẩn nhiều nguy cơ ngộ độc nghiêm trọng.

Thai phụ tuyệt đối không nên ăn thịt rắn vì rủi ro nhiễm khuẩn đường ruột nặng. Chưa có bằng chứng khoa học chứng minh thịt rắn mang lại lợi ích đặc biệt cho thai kỳ. Ngược lại, dữ liệu cho thấy rắn mang nhiều vi khuẩn nguy hại, đặc biệt là vi khuẩn Salmonella.

Vi khuẩn và ký sinh trùng trên thịt bò sát

Bò sát hoang dã lẫn nuôi nhốt chứa nhiều tác nhân gây bệnh sinh học [1]. Đường tiêu hóa của rắn, trăn, thằn lằn và cá sấu thường xuyên mang vi khuẩn Salmonella spp. cùng Vibrio spp. [1]. Rắn ăn thịt còn truyền ký sinh trùng như ấu trùng sán Sparganosis sang người qua đường tiêu hóa [1].

Thịt và trứng bò sát từ tự nhiên hay trang trại đều có thể chứa mầm bệnh [1]. Ký sinh trùng Sparganosis xâm nhập vào mô người khi ăn thịt rắn chế biến chưa chín [1]. Quá trình đông lạnh diệt được một số ký sinh trùng trên cá sấu, nhưng hiệu quả trên thịt loài bò sát khác chưa được xác thực [1]. Rắn hoang dã còn đối mặt nguy cơ tích tụ chất độc sinh học tự nhiên tùy thuộc vào nguồn thức ăn của chúng [1].

Nguy cơ nhiễm khuẩn Salmonella từ rắn

Tỷ lệ mang vi khuẩn Salmonella trong đường ruột bò sát hoang dã rất cao [2]. Dữ liệu tổng hợp năm 2017 ghi nhận vi khuẩn này xuất hiện trong 58,6% mẫu phân rắn hoang dã [2]. Các loài rùa chiếm tỷ lệ 32,4% và thằn lằn chiếm 40,9% [2].

Rắn đóng vai trò vật chủ tự nhiên mang các chủng vi khuẩn nguy hiểm như Salmonella enterica và Campylobacter fetus [2]. Con người nhiễm bệnh do ăn phải thịt ô nhiễm hoặc lây qua đường phân - miệng khi xử lý cá thể bò sát [2]. Một nghiên cứu năm 2006 chỉ ra rắn mẹ truyền Salmonella sang rắn con trong thai kỳ và khi sinh, khiến 65% cá thể sơ sinh nhiễm khuẩn bẩm sinh [3]. Nhiều loài rắn nuôi nhốt thải vi khuẩn ra môi trường liên tục chứ không theo chu kỳ ngắt quãng [4].

Bằng chứng khoa học về ngộ độc vi khuẩn từ bò sát

Trích đoạn nghiên cứu hiện chưa có dữ liệu riêng biệt trên cơ thể phụ nữ mang thai. Tuy nhiên, bằng chứng trên người suy giảm miễn dịch và trẻ nhỏ cho thấy mức độ nguy hiểm rất cao [2], [5], [6].

Nhiễm khuẩn Salmonella liên quan đến bò sát thường diễn tiến nặng, dẫn đến nhiễm trùng huyết và viêm màng não [3]. Vi khuẩn Salmonella enterica subsp. arizonae từ thịt bò sát hoặc chế phẩm đông y có thể gây nhiễm trùng xương khớp nghiêm trọng [6]. Y văn ghi nhận một ca bệnh viêm khớp háng nhiễm khuẩn ở trẻ 10 tháng tuổi bắt nguồn từ nguồn lây bò sát [6]. Tại Đức, giai đoạn 2006-2008 ghi nhận 26 bệnh nhi dưới 1 tuổi nhiễm khuẩn Salmonella từ nguồn bò sát nuôi trong nhà [5]. Người suy giảm miễn dịch từng nhiễm Campylobacter fetus nguy kịch sau khi ăn súp nấu từ bò sát [2].

Rắn còn mang các chủng vi khuẩn kháng nhiều loại thuốc kháng sinh [4]. Nghiên cứu năm 2021 phân lập được chủng Salmonella Kentucky đa kháng thuốc từ bò sát cảnh bị nhốt [4]. Việc lạm dụng kháng sinh hoặc cho bò sát ăn gặm nhấm nhiễm khuẩn làm gia tăng các chủng vi khuẩn khó điều trị này [4].

Bên cạnh nguy cơ nhiễm trùng, tiêu đề bài viết có nêu vấn đề tồn dư kim loại nặng từ bò sát hoang dã. Tuy nhiên, toàn bộ dữ liệu nghiên cứu hiện có trong bài chưa cung cấp số liệu thực nghiệm về kim loại nặng trên thịt rắn.

Con đường lây nhiễm chéo trong chế biến

Nguy cơ không chỉ đến từ việc nuốt thịt sống mà còn phát sinh qua lây nhiễm chéo [7]. Một vụ bùng phát dịch năm 2009 tại Minnesota (Mỹ) cho thấy vi khuẩn Salmonella phân nhóm IV gây bệnh đường ruột cho nhiều người mà không cần tiếp xúc trực tiếp với bò sát [7].

Nghiên cứu dịch tễ ghi nhận 19 người dự tiệc nhiễm khuẩn với thời gian ủ bệnh trung bình 19 giờ [7]. Nguyên nhân bắt nguồn từ món nước sốt do người nuôi thằn lằn chế biến [7]. Vi khuẩn Salmonella được tìm thấy tại bồn rửa bát, núm cửa và máy hút bụi của người chế biến [7]. Người nấu thức ăn không có triệu chứng nhưng làm lây lan mầm bệnh vào chuỗi thực phẩm [7].

Tại Mỹ, ước tính có khoảng 1,4 triệu ca nhiễm Salmonella và 400 ca tử vong mỗi năm, trong đó 6% ca bệnh liên quan tới bò sát [7]. Trẻ em phơi nhiễm với môi trường ô nhiễm có nguy cơ mắc bệnh rất cao [8]. Khi giết mổ rắn tại nhà, dao thớt và tay người làm dễ truyền vi khuẩn sang các món ăn khác [7].

Nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Phụ nữ mang thai, thai nhi và người có bệnh nền thuộc nhóm tổn thương nặng nhất trước các mầm bệnh từ động vật hoang dã [2], [6]. Cơ quan quản lý khuyến cáo trẻ em dưới 5 tuổi không nên tiếp xúc với bò sát do hệ miễn dịch chưa hoàn thiện [5].

Người suy giảm miễn dịch gặp rủi ro nhiễm khuẩn huyết đe dọa tính mạng khi ăn thịt hoặc canh nấu từ bò sát [2]. Thợ săn, người giết mổ và buôn bán thịt động vật hoang dã đối mặt nguy cơ lây nhiễm qua vết cắn, vết cào xước [2]. Vi khuẩn từ phân rắn dính vào da thịt gây nhiễm khuẩn cục bộ hoặc lan tỏa toàn thân [2].

Lời khuyên an toàn dinh dưỡng cho thai kỳ

Phụ nữ mang thai nên loại bỏ hoàn toàn thịt rắn và các loài bò sát hoang dã ra khỏi thực đơn. Nhu cầu bổ sung chất đạm trong thai kỳ cần được đáp ứng từ các nguồn thịt nuôi truyền thống đã qua kiểm dịch.

Mọi thực phẩm tiêu thụ cần được nấu chín kỹ để tiêu diệt vi khuẩn gây ngộ độc. Tuyệt đối không chế biến bò sát trong khu vực bếp nấu ăn của gia đình [5], [7]. Nếu gia đình từng nuôi hoặc tiếp xúc với bò sát, cần rửa tay bằng xà phòng và nước sạch ngay lập tức [5]. Khi có triệu chứng sốt, tiêu chảy nhiều lần sau khi tiếp xúc hoặc ăn thịt lạ, cần đến ngay cơ sở y tế và thông báo rõ yếu tố dịch tễ cho bác sĩ [4], [7].

Dinh dưỡng thai kỳ đòi hỏi sự an toàn và kiểm soát nguồn gốc nghiêm ngặt. Thay vì tìm kiếm các món thịt lạ tiềm ẩn hiểm họa vi khuẩn và ký sinh trùng, mẹ bầu nên duy trì chế độ ăn cân bằng với thực phẩm tươi sống thông thường. Mọi ý định bổ sung dược liệu hay bài thuốc dân gian đều cần tham khảo ý kiến chuyên môn của bác sĩ sản khoa.