Lời đồn tẩm bổ và nỗi lo an toàn thực phẩm
Nhiều gia đình thường tìm kiếm các loại thịt đặc sản như thịt nhím rừng hoặc nhím nuôi bán hoang dã để bồi bổ cho phụ nữ mang thai. Quan niệm dân gian cho rằng thịt động vật hoang dã sạch, giàu đạm và bổ máu cho thai phụ.
Tuy nhiên, phụ nữ mang thai là đối tượng nhạy cảm hàng đầu về mặt miễn dịch và tiêu hóa. Việc tiêu thụ các loại thịt rừng hay động vật hoang dã tiềm ẩn nhiều mối nguy vi sinh vật, ký sinh trùng đường ruột chưa được kiểm soát.
Phụ nữ mang thai không nên ăn thịt nhím rừng hoặc các loại thịt động vật hoang dã. Bằng chứng khoa học cho thấy các loài động vật hoang dã mang tải lượng ký sinh trùng lớn và nhiều mầm bệnh lây truyền sang người [1], [2].
Đường lây truyền mầm bệnh từ động vật hoang dã
Động vật hoang dã sống ngoài môi trường tự nhiên hoặc nuôi nhốt bán hoang dã tiếp xúc thường xuyên với đất, phân và nguồn nước bẩn. Hoạt động săn bắt, vận chuyển thô sơ và giết mổ không đảm bảo vệ sinh làm tăng nguy cơ lây truyền mầm bệnh từ ruột sang thịt [1], [3].
Khi giết mổ động vật hoang dã, việc mổ tạng thường diễn ra chậm trễ, thậm chí sau hơn 24 giờ sau khi chết [3]. Điều này tạo điều kiện cho các loại vi sinh vật và giun sán từ nội tạng xâm nhập trực tiếp vào các mô cơ [3].
Ngoài ra, quá trình sơ chế thịt tại gia đình có thể gây nhiễm chéo sang các dụng cụ nhà bếp khác [3], [4]. Bất kỳ sự tiếp xúc trực tiếp nào với phân hoặc nội tạng động vật hoang dã đều là nguồn lây nguy hiểm cho con người [1].
Bằng chứng khoa học: Ký sinh trùng đường ruột trên nhím
Nhiều nghiên cứu thực địa đã chỉ ra nhím hoang dã và các loài thú rừng là ổ chứa tự nhiên của nhiều loại giun sán nguy hiểm [1], [2], [5].
Nghiên cứu công bố năm 2023 tại Gabon thu thập mẫu phân và ruột của 113 cá thể động vật hoang dã (bao gồm 18 con nhím, 24 linh dương, 58 linh dương hoẵng, 8 khỉ nhỏ cùng một số loài khác) [1]. Kết quả phát hiện 15 đơn vị phân loại ký sinh trùng tiêu hóa, trong đó có 9 loài giun tròn như Strongylids (61/113), Ascaris spp. (21/113), Trichuris spp. (39/113) và Strongyloides spp. (21/113) [1].
Một nghiên cứu khác năm 2024 tại chợ thịt rừng Atwemonom ở Ghana phân tích 50 thân thịt động vật hoang dã thuộc 8 loài khác nhau [2]. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm giun sán đường ruột tổng thể lên tới 71,0% [2]. Nghiên cứu xác định sự hiện diện của hai loài ký sinh trùng có khả năng lây sang người là Strongyloides stercoralis và Trichuris trichiura [2].
Đặc biệt trên loài nhím có bờm (Hystrix cristata), nghiên cứu năm 2020 tại Ý báo cáo lần đầu tiên phát hiện nhiễm đơn bào Giardia duodenalis [5]. Kết quả phân tích phân nhóm AII và BIV liên quan đến nhiễm trùng ở người, cảnh báo nhím có thể đóng vai trò là nguồn lây truyền u nang Giardia duodenalis sang người [5].
Nguy cơ vi khuẩn và ký sinh trùng gây dị tật thai nhi
Bên cạnh ký sinh trùng giun tròn, nguy cơ nhiễm các mầm bệnh nguy hiểm trong thai kỳ từ thịt sống hoặc thịt chưa nấu chín là rất rõ ràng [4], [6].
Ký sinh trùng Toxoplasma gondii có thể gây bệnh bẩm sinh nghiêm trọng cho thai nhi nếu người mẹ nhiễm trùng nguyên phát trong thai kỳ [4]. T. gondii lây lan qua việc ăn thịt chưa nấu chín, sử dụng chung dụng cụ sơ chế thịt sống hoặc tiếp xúc với nguồn ô nhiễm [4]. Thậm chí ở các sản phẩm thịt ủ muối ăn liền, vi nấm T. gondii sống vẫn được tìm thấy ở 1 trong số 67 mẫu kiểm nghiệm [6].
Về vi khuẩn đường ruột, một khảo sát cắt ngang năm 2012 tại Gabon trên 128 thân thịt động vật hoang dã (bao gồm nhím có bờm châu Phi Atherurus africanus, khỉ và lợn rừng) cho thấy mức độ nhiễm vi khuẩn thấp: phát hiện 1 mẫu dương tính với Salmonella, không thấy Campylobacter hay Shigella trong mô cơ [3]. Dù vậy, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh việc tự mổ thịt và lột da tại nhà vẫn tiềm ẩn nguy cơ ngộ độc thực phẩm nếu không tuân thủ vệ sinh nghiêm ngặt [3].
Giới hạn dữ liệu và các hiểu lầm thường gặp
Hiện tại chưa có nghiên cứu chuyên biệt đánh giá cụ thể tỷ lệ nhiễm giun xoắn (Trichinella) trên quần thể nhím nuôi tại Việt Nam. Các dữ liệu khoa học hiện có chủ yếu ghi nhận trên nhím rừng hoang dã và các loài thú săn tại châu Phi và châu Âu [1], [2], [5], [3].
Nhiều người lầm tưởng nhím nuôi là hoàn toàn sạch bệnh và an toàn tuyệt đối. Thực tế, quy trình nuôi nhím bán hoang dã tại nhiều hộ gia đình chưa có quy chuẩn kiểm dịch thú y chặt chẽ, thức ăn và nguồn đất vẫn có thể nhiễm nang ký sinh trùng [5].
Cũng có quan niệm cho rằng chỉ cần nướng tái hoặc luộc sơ qua là giữ trọn chất bổ của thịt nhím. Đây là sai lầm nguy hiểm, vì ấu trùng giun sán và nang bào ký sinh chỉ bị tiêu diệt khi thịt được nấu chín hoàn toàn ở nhiệt độ sôi thích hợp [4], [6].
Ai cần tuyệt đối thận trọng?
Phụ nữ mang thai ở bất kỳ giai đoạn nào đều cần tránh xa thịt nhím rừng và thịt động vật hoang dã không rõ nguồn gốc.
Phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ cũng là nhóm đối tượng có hệ tiêu hóa và miễn dịch nhạy cảm, không nên sử dụng các món ăn chế biến từ thịt thú rừng săn bắn thô sơ.
Người có hệ miễn dịch suy giảm, người đang mắc các bệnh lý nền về đường ruột cần tuân thủ nghiêm ngặt chế độ ăn chín uống sôi và tránh tiếp xúc với thịt sống từ động vật hoang dã [1], [3].
Cách bảo vệ thai kỳ và áp dụng an toàn thực phẩm
Thay vì tìm kiếm các loại thịt rừng mạo hiểm, thai phụ nên lựa chọn các nguồn đạm truyền thống đã được kiểm dịch an toàn như thịt lợn, thịt bò, thịt gà từ cơ sở uy tín.
Khi chế biến thực phẩm trong gia đình, cần rửa tay sạch trước và sau khi chạm vào thịt sống [4]. Dùng dao, thớt riêng biệt cho thực phẩm sống và thực phẩm chín để ngăn ngừa nguy cơ nhiễm chéo vi sinh vật [4].
Luôn nấu chín kỹ mọi loại thịt trước khi sử dụng, tuyệt đối không ăn các món tái, gỏi sống, hoặc thịt hun khói chưa qua xử lý nhiệt đạt chuẩn [4], [6]. Bất kỳ dấu hiệu bất thường nào về tiêu hóa sau khi ăn thịt lạ đều cần được thăm khám tại cơ sở y tế.
Thịt nhím rừng nuôi tiềm ẩn nhiều rủi ro mang ký sinh trùng đường ruột và vi khuẩn gây bệnh do nguồn gốc không kiểm soát. Phụ nữ mang thai cần ưu tiên nguồn thực phẩm quen thuộc, an toàn và luôn tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng.

