Nhiều người tìm đến các sản phẩm chiết xuất từ tảo biển tự nhiên với niềm tin bổ sung càng nhiều khoáng chất càng tốt cho cơ thể. Tảo bẹ thuộc chi Laminaria là một trong những thành phần bổ sung phổ biến nhất trên thị trường hiện nay. Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia, các cơ quan y tế đã ban hành quy định nghiêm ngặt nhằm giới hạn hàm lượng tiêu thụ loại thảo dược này mỗi ngày.

Lý do chính nằm ở nồng độ iốt cực kỳ cao có trong mô sinh học của tảo bẹ cô đặc. Việc tiêu nạp quá nhiều iốt thông qua viên uống hoặc bột chiết xuất có thể gây độc tính và làm rối loạn hoạt động bình thường của tuyến giáp. Do đó, các chế phẩm từ tảo bẹ không thể sử dụng tùy tiện như thực phẩm thông thường.

Tảo bẹ Laminaria tích tụ vi chất từ biển như thế nào?

Tảo bẹ Laminaria thuộc nhóm tảo nâu lớn phân bố ở vùng nước lạnh [1, 7]. Về mặt thành phần dinh dưỡng, chi tảo này cung cấp nhiều khoáng chất tự nhiên bao gồm kali, magie, canxi, sắt và đặc biệt là nguồn iốt rất dồi dào [1]. Ngoài ra, tảo còn chứa laminarin có tác dụng ngăn tạo mạch khối u, cùng algin là polysaccharide khối lượng phân tử lớn tạo gel nhớt thường dùng làm thuốc nhuận tràng khối [1].

Cơ chế sinh học tự nhiên buộc tảo biển phải tích trữ một lượng iốt khổng lồ từ môi trường xung quanh. Nghiên cứu công bố năm 2014 giải thích rằng ở loài Laminaria digitata, dạng iốt iodide (I-) được tích lũy ở mức millimol [2]. Trong môi trường sống tự nhiên thường xuyên biến động độ mặn, bên cạnh chất điều hòa thẩm thấu hữu cơ mannitol, ion I- đóng vai trò như một chất thẩm thấu vô cơ [2]. Tốc độ giải phóng ròng I- tăng lên khi độ mặn giảm, trong khi tảo tích lũy I- ở độ mặn bình thường (35 S A) lẫn độ mặn cao (50 S A) [2]. Việc tích trữ iốt mô cao này hỗ trợ phản ứng quang sinh lý, bảo vệ quang học và ngăn ngừa hiện tượng ức chế quang hợp dưới áp lực độ mặn cao [2].

Nguy cơ tiềm ẩn từ nguồn iốt quá đậm đặc

Iốt là vi chất bắt buộc cho hoạt động sống, chiếm khoảng 80% tại tuyến giáp ở người và động vật có vú để tổng hợp các hormone điều hòa như thyroxine và triiodothyronine [3]. Những hormone này điều khiển sự tăng trưởng, phát triển thể chất và khả năng sinh kháng thể bảo vệ [3]. Dù vậy, ranh giới giữa mức đủ và mức thừa của iốt khá mong manh.

Khi con người sử dụng tảo bẹ dưới dạng cô đặc hoặc viên uống bổ sung, hàm lượng iốt nạp vào có thể nhanh chóng vượt ngưỡng an toàn. Tiếp xúc với lượng iốt dư thừa kéo dài đã được ghi nhận gây ảnh hưởng tiêu cực lên tuyến giáp và hệ thống hormone tuyến giáp [4]. Các báo cáo quy chuẩn an toàn cho thấy các chế phẩm bột tảo thô (Thallus laminariae) cần được kiểm định chặt chẽ các thông số khoáng chất vi lượng, asen và các kim loại nặng khác để bảo đảm chất lượng theo Đạo luật Hiện đại hóa An toàn Thực phẩm (FSMA) và Đạo luật Giáo dục và Ghi nhãn Thực phẩm Bổ sung (DSHEA) năm 1994 [5].

Bằng chứng lâm sàng về biến động iốt ở người

Một can thiệp lâm sàng xuất bản năm 2011 đã làm rõ mức độ tác động mạnh mẽ của liều lượng bột tảo bẹ lên nồng độ iốt trong cơ thể [6]. Nghiên cứu tiến hành trên 7 bệnh nhân suy giáp do thiếu iốt khi nuôi dưỡng hoàn toàn qua đường ruột dài ngày (TEN) [6]. Do khẩu phần dinh dưỡng chuyên biệt tại Nhật Bản cung cấp iốt thấp hơn khuyến nghị hàng ngày của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản (40-150 microg đối với trẻ em và thanh thiếu niên), nhóm nghiên cứu đã sử dụng bột tảo bẹ khô Laminaria japonica (Konbucha) để điều trị bù khoáng [6].

Kết quả cho thấy 5 ca bệnh có nồng độ iốt niệu (UIC) rất thấp ban đầu đã hồi phục cả chỉ số UIC lẫn chức năng giáp, 2 ca còn lại cũng phục hồi chức năng tuyến giáp [6]. Đáng chú ý, khi khởi đầu can thiệp với liều từ 1,6 đến 2 g bột tảo bẹ mỗi ngày trên 2 bệnh nhân, nồng độ iốt trong nước tiểu vọt lên ngưỡng nguy cơ rất cao (đạt 1.380 microg/l ở ca bệnh số 4 và 560 microg/l ở ca bệnh số 5) [6]. Các nhà nghiên cứu buộc phải hạ liều xuống mức 1 đến 1,6 g/ngày [6]. Mức dùng chỉ khoảng 1 g bột tảo bẹ khô mỗi ngày (chứa xấp xỉ 200 microg iốt) đã vượt nhẹ mức khuyến nghị hàng ngày và đủ để tái lập cân bằng tuyến giáp [6]. Can thiệp quy mô nhỏ này là bằng chứng rõ ràng cho thấy chỉ cần một lượng bột tảo bẹ rất nhỏ cũng có thể khiến chỉ số iốt trong cơ thể tăng vọt.

Hàm lượng biến động khó kiểm soát trong tự nhiên

Việc tự ý dùng thực phẩm bổ sung từ tảo bẹ còn đối mặt với rủi ro chênh lệch hàm lượng giữa các lô thu hoạch. Một nghiên cứu năm 2021 tại miền bắc Na Uy phân tích loài tảo bẹ đường Saccharina latissima ghi nhận hàm lượng iốt trung bình trong mẫu tảo thô lên tới 4.100 +- 700 mg/kg trọng lượng khô, dao động từ 3.300 đến 4.800 mg/kg trọng lượng khô [7]. Báo cáo cũng chỉ ra các tài liệu trước đó từng ghi nhận biên độ dao động rất lớn, từ 380 đến 7.200 mg/kg trọng lượng khô [7].

Độ sâu nuôi trồng là yếu tố then chốt gây ra sự biến thiên này. Khảo sát cho thấy mẫu nuôi ở độ sâu 1 m chứa 3.300 +- 0 mg/kg trọng lượng khô, trong khi nuôi ở độ sâu 9 m chứa tới 4.700 +- 100 mg/kg trọng lượng khô [7]. Sự trồi sụt khó đoán này khiến người tiêu dùng bình thường không thể tự định lượng chính xác lượng vi chất đưa vào cơ thể khi dùng các chế phẩm chưa được chuẩn hóa [7]. Do đó, các phương pháp phân tích điện thế chọn lọc ion đã được phát triển nhằm kiểm soát chặt chẽ nồng độ iodide trong nguyên liệu thô chiết xuất từ Laminaria sp. với khoảng phân tích từ 0,03 đến 209,4 mug/mL dung dịch thử [3].

Tạp chất kim loại nặng và tác động chuyển hóa

Bên cạnh áp lực vi chất iốt, các chế phẩm cô đặc từ tảo bẹ thu hái tự nhiên còn mang nguy cơ tích lũy kim loại nặng từ đáy biển. Một nghiên cứu năm 2022 trên chuột cống được cho ăn tảo Saccharina latissima ghi nhận hàm lượng cadimi (Cd) trong nguyên liệu là 0,45 mg/kg chất khô [4]. Dù phần lớn Cd tiêu hóa được bài tiết qua phân trong vòng 24 giờ (đạt 97,1 +- 2,3% ở nhóm ăn 0,5% tảo và 92,7 +- 3,2% ở nhóm ăn 5% tảo), dấu vết Cd tích tụ vượt giới hạn định lượng vẫn xuất hiện trong mô gan và mô thận ở nhóm ăn tỷ lệ 5% tảo bẹ [4].

Về chuyển hóa, thí nghiệm theo dõi chế độ ăn chứa tảo bẹ trong 13 tuần không ghi nhận sự thay đổi khối lượng cơ thể hay hiệu quả sử dụng thức ăn giữa các nhóm [4]. Tuy nhiên, nhóm ăn chế độ ít iốt có xu hướng tăng tiêu thụ năng lượng hơn nhóm nhiều iốt (p = 0,09) [4]. Khối lượng tim và thận không suy chuyển, song nhóm đối chứng nhận liều iốt từ kali iodide (KI) tinh khiết lại bị tăng khối lượng gan so với nhóm ăn tảo bẹ [4].

Dù vậy, các nghiên cứu độc tính cũng cho thấy các khâu sơ chế truyền thống có thể giảm thiểu một số rủi ro. Khảo sát trên tảo bẹ luộc và sấy khô cho thấy nồng độ thủy ngân chỉ chiếm dưới 0,1% lượng ăn vào chấp nhận được hàng ngày (TDI) nếu là thủy ngân vô cơ, và 0,2% TDI nếu tính là metyl thủy ngân [7]. Ngoài ra, asen trong tảo biển chủ yếu tồn tại dưới dạng hợp chất hữu cơ (như arsenosugar), có độc tính thấp hơn rất nhiều so với dạng thạch tín vô cơ [5].

Hiểu lầm phổ biến khi dùng thảo dược biển

Nhiều người lầm tưởng rằng các sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên như tảo biển thì luôn an toàn tuyệt đối và có thể uống kéo dài thay rau xanh. Thực tế, tảo bẹ khô là dạng vật chất đã bị rút nước, nồng độ vi chất bị đẩy lên rất cao [4, 5]. Chỉ 1 g bột tảo thô đã cung cấp tới khoảng 200 microg iốt, vượt ngưỡng nhu cầu sinh lý thông thường của một cá nhân [6].

Một ngộ nhận khác là ai cũng cần tích cực bổ sung iốt liều cao để phòng bệnh bướu cổ. Dù iốt cần thiết cho hormone thyroxine và triiodothyronine của tuyến giáp [3], nạp thừa iốt từ thực phẩm chức năng có thể kích hoạt độc tính, phản tác dụng và gây ức chế hoạt động tuyến giáp kéo dài [4].

Những nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng

Các đối tượng sau cần tránh tự ý mua viên uống hoặc bột tảo bẹ cô đặc:

  • Người có tiền sử bệnh lý tuyến giáp (viêm giáp tự miễn, nhân tuyến giáp, suy giáp hoặc cường giáp).
  • Bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc tuyến giáp hoặc các loại thuốc có tương tác với hấp thu iốt.
  • Phụ nữ có thai và đang cho con bú, nhóm đối tượng rất nhạy cảm với sự trồi sụt hormone tuyến giáp.
  • Trẻ em và thanh thiếu niên (nhóm có ngưỡng nhu cầu khuyến nghị chỉ từ 40-150 microg iốt mỗi ngày) [6].
  • Người có bệnh lý suy giảm chức năng gan, thận do nguy cơ quá tải chuyển hóa khoáng và tích tụ kim loại vi lượng [4].

Hướng dẫn sử dụng an toàn và cân bằng

Để tận dụng giá trị khoáng chất mà không gặp họa độc tính, người tiêu dùng nên tuân thủ các nguyên tắc:

  • Ưu tiên sử dụng rong biển ở dạng ẩm thực truyền thống (nấu canh, làm gia vị) với lượng vừa phải, thay vì lạm dụng viên chiết xuất cô đặc liều cao.
  • Nếu dùng thực phẩm bổ sung, hãy đọc kỹ nhãn thành phần để kiểm tra chính xác hàm lượng iốt nguyên tố cung cấp trên mỗi khẩu phần.
  • Chế biến qua nước sôi có thể giúp đào thải bớt một phần lượng chất hòa tan và giảm thiểu phơi nhiễm các tạp chất không mong muốn [7].
  • Tuyệt đối tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa nội tiết trước khi dùng các chế phẩm tảo bẹ nếu đang có bệnh nền.

Tảo bẹ Laminaria là nguồn dinh dưỡng giá trị nhưng mang nồng độ iốt đậm đặc tự nhiên [1, 7]. Việc nhiều quốc gia siết chặt liều lượng là giải pháp y tế cần thiết nhằm bảo vệ người tiêu dùng trước các nguy cơ rối loạn tuyến giáp. Tiếp cận thực phẩm tự nhiên bằng sự hiểu biết chừng mực luôn là chìa khóa bảo vệ sức khỏe bền vững.