Nhiều người tìm đến các loại thảo mộc tự nhiên với mong muốn tăng cường mật độ xương và hỗ trợ khớp dẻo dai. Trong số đó, các chế phẩm từ lá tre và trà thảo mộc thường được truyền tai như nguồn cung cấp silica tự nhiên dồi dào giúp bảo vệ hệ vận động.
Tuy nhiên, liệu uống trà lá tre hay trà thảo mộc có thực sự mang lại hiệu quả tăng mật độ xương như lời đồn? Bằng chứng khoa học hiện nay chỉ ra rằng các dữ liệu liên quan trực tiếp đến trà thảo mộc trong việc tăng mật độ khoáng chất của xương còn rất hạn chế và chưa cho thấy mối liên hệ nhân quả rõ rệt [1].
Góc nhìn khoa học về trà và sức khỏe xương
Trong thực dưỡng và đời sống thường ngày, các loại trà truyền thống như trà ô long hay trà đen đã được nghiên cứu khá kỹ lưỡng về ảnh hưởng đối với hệ xương [1, 5]. Ngược lại, trà thảo mộc hay các hợp chất chiết xuất từ lá tre phần lớn chỉ dừng lại ở các phân tích thành phần hoặc thử nghiệm hẹp [2, 8].
Nghiên cứu về di truyền quy mô lớn năm 2024 sử dụng phương pháp phân tích ngẫu nhiên Mendelian trên quần thể người gốc châu Âu đã phân tích dữ liệu đa hình đơn nucleotide từ tối đa 447.485 cá nhân và dữ liệu của GEFOS Consortium trên 56.284 cá nhân [1]. Kết quả chỉ ra rằng lượng tiêu thụ trà nói chung có ảnh hưởng nhân quả đến việc tăng mật độ khoáng chất xương toàn cơ thể với tỷ số chênh OR là 1,204 (khoảng tin cậy 95%: 1,062-1,366, p = 0,004) [1]. Hiệu quả này rõ rệt nhất ở nhóm từ 45 đến 60 tuổi với OR là 1,360 (khoảng tin cậy 95%: 1,088-1,700, p = 0,007) [1].
Tuy vậy, nghiên cứu này không tìm thấy tác động nhân quả ở các nhóm tuổi khác như 0-15 tuổi, 15-30 tuổi, 30-45 tuổi hoặc trên 60 tuổi [1]. Đáng chú ý, khi tiến hành phân tích phân nhóm riêng cho lượng tiêu thụ trà thảo mộc (herbal tea), kết quả cho thấy không có mối liên quan nhân quả nào giữa trà thảo mộc và mật độ khoáng xương toàn cơ thể (p = 0,264) [1]. Tương tự, lượng tiêu thụ trà xanh cũng không cho thấy mối liên hệ rõ rệt trong phân tích này (p = 0,368) [1].
Cơ chế sinh học: Khác biệt giữa các hợp chất trong trà
Khi tìm hiểu sâu về tác động tế bào, các nhà khoa học nhận thấy một số loại trà truyền thống chứa các chất có khả năng hỗ trợ tế bào tạo xương. Nghiên cứu năm 2020 trên dòng tế bào Saos-2 (tế bào tương tự tế bào tạo xương) đã đánh giá tác động phụ thuộc liều của trà đen đối với quá trình khoáng hóa [2].
Nghiên cứu thử nghiệm các nồng độ trà đen từ 0,1 đến 1 microgam đương lượng axit gallic/mL (tương ứng mức tiêu thụ qua ăn uống) và từ 2 đến 10 microgam đương lượng axit gallic/mL (tương ứng mức bổ sung) [2]. Kết quả cho thấy trà đen tạo phản ứng phụ thuộc liều đối với quá trình khoáng hóa xương, đạt đỉnh tại nồng độ 1 microgam/mL (p < 0,05) [2]. Hoạt tính tế bào tăng cao đáng kể sau 24 giờ ở nồng độ 2-10 microgam/mL và sau 48 giờ ở nồng độ 1-10 microgam/mL, với đỉnh điểm ở mức 5 microgam/mL (p < 0,05) [2].
Liều trung bình 0,75 microgam/mL làm tăng biểu hiện của osteopontin so với liều cao nhất 10 microgam/mL (p < 0,05), trong khi nồng độ từ 0,5 đến 10 microgam/mL giúp tăng khả năng chống oxy hóa so với đối chứng (p < 0,05) [2]. Nghiên cứu cũng ghi nhận ở phụ nữ lớn tuổi trên 75 tuổi có nguy cơ gãy xương, việc uống từ 3 tách trà đen trở lên mỗi ngày giúp giảm 30% nguy cơ gãy xương [2]. Dù vậy, dữ liệu này phản ánh tác động của polyphenol trong trà đen chứ không đồng nghĩa với việc mọi loại trà thảo mộc hay lá tre đều có khả năng tương tự.
Đối với lá tre, một nghiên cứu năm 2015 trên chuột bị tăng lipid máu đã thử nghiệm sự kết hợp giữa flavone lá tre và polyphenol trong trà [3]. Động vật thí nghiệm được chia thành 13 nhóm, trong đó thử nghiệm 3 mức liều flavone lá tre (25, 50, 75 mg/kg/ngày) kết hợp với 3 mức polyphenol trà (250, 500, 750 mg/kg/ngày) [3]. Kết quả cho thấy liều cao flavone lá tre (75 mg/kg/ngày) phối hợp liều trung bình polyphenol trà (500 mg/kg/ngày) theo tỷ lệ 1:6,7 giúp hạn chế tăng cân và cải thiện nồng độ triglyceride cũng như HDL cholesterol [3]. Nghiên cứu này chứng minh tiềm năng hạ lipid máu của flavone lá tre, nhưng không đưa ra bằng chứng nào về khả năng củng cố xương hay cung cấp silica có ích cho mô xương.
Phân biệt rõ: Hít phải bụi silica và hợp chất dinh dưỡng
Một trong những nhầm lẫn lớn nhất của người tiêu dùng là đánh đồng mọi dạng tồn tại của silica. Nhiều người tin rằng nạp nhiều silica sẽ luôn làm đặc xương, nhưng khoa học cho thấy sự phơi nhiễm silica qua đường hô hấp trong môi trường lao động lại dẫn đến tác động tiêu cực cho xương [3, 7].
Nghiên cứu công bố năm 2018 trên 6 con chuột cống giống Wistar bị phơi nhiễm bụi silica liên tục trong 24 tuần nhằm tạo mô hình bệnh bụi phổi silica [4]. Chụp cắt lớp vi tính vi mô (micro-CT) cho thấy mật độ khoáng chất xương giảm rõ rệt ở chuột bị phơi nhiễm so với nhóm đối chứng [4]. Đi kèm với đó là sự suy giảm nồng độ canxi huyết thanh và 25-hydroxyvitamin D, tăng hoạt tính của tế bào hủy xương, xuất hiện biến đổi dạng xơ hóa và có sự lắng đọng hạt silica bên trong tủy xương [4].
Tác động bất lợi này cũng được ghi nhận trên cơ thể người. Năm 2016, một nghiên cứu lâm sàng đánh giá trên 104 nam giới phơi nhiễm silica và 36 người khỏe mạnh [5]. Các đối tượng phơi nhiễm được chia theo phân loại của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Nhóm I (54 người), Nhóm II (25 người), Nhóm III (25 người) [5]. Kết quả cho thấy mật độ xương cổ xương đùi ở Nhóm III thấp hơn đáng kể so với nhóm đối chứng (p = 0,007) [5].
Đồng thời, mật độ xương đốt sống thắt lưng ở tất cả các nhóm phơi nhiễm silica đều thấp hơn rõ rệt so với người khỏe mạnh (p = 0,000), và tỷ lệ loãng xương ở Nhóm III cao vượt trội (p = 0,000) [5]. Những người bị phơi nhiễm silica cũng có mức 25-hydroxyvitamin D trong huyết thanh bị suy giảm nghiêm trọng (p = 0,012) [5]. Điều này khẳng định hạt silica lắng đọng gây hại cho cơ thể, hoàn toàn khác với các dạng hợp chất khoáng thực vật hòa tan được chuyển hóa qua đường ruột.
Nghiên cứu lâm sàng về thói quen uống trà và mật độ xương
Để hiểu rõ hơn giá trị thực tế của việc uống trà lên khung xương, các nghiên cứu quan sát trên người tiêu dùng trà truyền thống đã đưa ra những con số cụ thể [1, 4, 6].
Năm 2014, một nghiên cứu tại Trung Quốc so sánh 124 phụ nữ mãn kinh người Hán có thói quen uống trà ô long với 556 phụ nữ không uống trà [6]. Sau khi kiểm soát thói quen sinh hoạt, chế độ ăn, sinh đẻ và bệnh lý nền, các nhà khoa học ghi nhận mật độ xương ở mấu chuyển lớn của người uống trà cao hơn nhóm không uống (0,793 ± 0,119 kg/cm² so với 0,759 ± 0,116 kg/cm², p = 0,013) [6]. Mật độ xương tại tam giác Ward ở nhóm uống trà cũng cao hơn (0,668 ± 0,133 kg/cm² so với 0,637 ± 0,135 kg/cm², p = 0,013), cho thấy uống trà ô long hỗ trợ hạn chế mất xương ở phụ nữ mãn kinh [6].
Một khảo sát dịch tễ học năm 2020 tại Sán Đầu trên 476 phụ nữ sau mãn kinh từ 40 đến 88 tuổi tiếp tục ghi nhận nhóm uống trà ô long có mật độ xương gót chân cao hơn nhóm không uống (hệ số beta 34,70; khoảng tin cậy 95%: 10,38-59,03) [7]. Mật độ xương gót chân tăng rõ nhất ở nhóm duy trì mức uống 1-5 tách/ngày (hệ số beta 27,43; khoảng tin cậy 95%: 3,70-51,16), trong khi uống trên 5 tách/ngày không cho thấy mức tăng có ý nghĩa [7]. Mối liên hệ giữa số năm uống trà và mật độ xương tạo thành đường cong parabol, không tăng tuyến tính mãi, và triệu chứng loãng xương không khác biệt giữa các loại trà [7].
Dẫu vậy, hiệu ứng cải thiện mật độ xương của trà không đồng nghĩa với việc ngăn chặn hoàn toàn tai biến gãy xương. Nghiên cứu tiến cứu trên 91.465 phụ nữ sau mãn kinh từ 50-79 tuổi thuộc chương trình Sáng kiến Sức khỏe Phụ nữ (WHI) tại Mỹ theo dõi trung bình 4,1 năm cho thấy: dù phân tích đa biến trên phân nhóm 4.979 người đo mật độ xương cho thấy xu hướng tăng nhẹ mật độ xương toàn thân (p < 0,05), nhưng mô hình rủi ro tỷ lệ Cox không ghi nhận sự liên quan có ý nghĩa nào giữa uống trà và việc giảm nguy cơ gãy xương hông hay cổ tay [8]. Nghiên cứu kết luận tác động của thói quen uống trà lên xương là tương đối nhỏ và không làm thay đổi đáng kể rủi ro nứt gãy ở phụ nữ lớn tuổi [8].
Hiểu lầm thường gặp về silica và trà thảo mộc
Quan niệm phổ biến hiện nay cho rằng uống trà thảo mộc từ lá tre sẽ trực tiếp bổ sung silica giúp xương chắc khỏe và chữa đau khớp. Sự thật là chưa có thử nghiệm lâm sàng đối chứng nào chứng minh trà lá tre kích thích tạo xương ở người. Phân tích di truyền quy mô lớn khẳng định trà thảo mộc không có liên hệ nhân quả với mật độ khoáng chất xương toàn thân [1].
Một hiểu lầm khác là càng nạp nhiều silica hoặc uống càng nhiều trà thì xương càng đặc. Dữ liệu thực tế cho thấy việc uống trên 5 tách trà ô long mỗi ngày không mang lại lợi ích gia tăng cho mật độ xương gót chân [7]. Ngoài ra, việc tiếp xúc hay tích tụ silica công nghiệp trong cơ thể còn gây viêm xơ tủy xương và suy giảm mật độ xương [3, 7]. Bất kỳ loại nước sắc thảo mộc nào cũng chỉ đóng vai trò hỗ trợ lối sống, không thể thay thế cho chế độ dinh dưỡng giàu canxi, vitamin D và hoạt động thể chất.
Ai nên thận trọng khi sử dụng?
Dù trà thảo mộc và trà nói chung mang lại cảm giác dễ chịu, người sử dụng cần thận trọng tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe:
- Người cao tuổi hoặc phụ nữ sau mãn kinh có nguy cơ loãng xương cao không nên tự ý dùng trà lá tre thay thế thuốc điều trị loãng xương hay chế phẩm bổ sung được bác sĩ kê đơn.
- Người mắc các bệnh lý hô hấp nghề nghiệp hoặc có tiền sử phơi nhiễm bụi silica cần đặc biệt chú ý kiểm tra nồng độ vitamin D và mật độ xương định kỳ, vì tình trạng này có thể đi kèm nguy cơ loãng xương thứ phát [3, 7].
- Người có hệ tiêu hóa nhạy cảm, bệnh lý dạ dày hoặc đang dùng nhiều loại thuốc điều hòa chuyển hóa nên hỏi ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng các bài thuốc phối hợp flavone lá tre hoặc dịch chiết cô đặc liều cao [3].
Áp dụng thực tế hợp lý trong đời sống
Nếu yêu thích hương vị của trà lá tre hoặc các loại trà nói chung, người tiêu dùng có thể kết hợp vào chế độ sinh hoạt một cách điều độ:
- Liều lượng cân bằng: Thưởng thức từ 1 đến 3 tách trà mỗi ngày, tránh lạm dụng quá mức trên 5 tách mỗi ngày vì không đem lại thêm lợi ích cho xương [7].
- Pha hãm an toàn: Sử dụng nguyên liệu lá tre hoặc thảo mộc khô có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, không lẫn tạp chất, pha bằng nước sôi và dùng trong ngày.
- Không xem là giải pháp duy nhất: Để bảo vệ xương khớp, cần duy trì chế độ ăn giàu canxi, tiếp xúc ánh nắng an toàn để tổng hợp vitamin D và tập luyện thể lực đều đặn. Nếu có bệnh lý về xương khớp, người bệnh cần tuân thủ phác đồ điều trị y khoa thay vì phụ thuộc vào các loại nước thảo mộc truyền miệng.
Nhìn chung, trà lá tre hay trà thảo mộc có thể là thức uống thư giãn và hỗ trợ chống oxy hóa trong thực dưỡng. Tuy nhiên, các bằng chứng khoa học hiện tại chưa ghi nhận khả năng tăng mật độ xương từ trà thảo mộc [1], do đó người tiêu dùng cần có cái nhìn tỉnh táo, không thần thánh hóa nguồn silica từ lá tre.









