Mỗi khi thời tiết chuyển sang mùa nồm ẩm, nhiều gia đình có con nhỏ lại bước vào giai đoạn căng thẳng vì trẻ liên tục ho dai dẳng, khò khè và tái phát các đợt khó thở. Hiện tượng sàn nhà đổ mồ hôi, tường ẩm ướt và chăn đệm luôn có cảm giác dính dáp thường đi kèm với tình trạng phòng khám nhi quá tải bệnh nhi khám hô hấp. Không ít phụ huynh lầm tưởng rằng trẻ bị ho chỉ đơn thuần do cảm lạnh hoặc nhiễm phong hàn do thời tiết ướt át.
Thực tế y học cho thấy, nguyên nhân hàng đầu khiến đường thở của trẻ bị kích ứng dữ dội trong mùa nồm xuất phát từ sự bùng phát của mạt bụi nhà và bào tử nấm mốc. Độ ẩm không khí cao vượt ngưỡng tạo môi trường hoàn hảo cho các tác nhân vi sinh này sinh sôi nảy nở trên đồ vải, thảm nệm và các góc khuất trong nhà. Khi trẻ hít phải các dị nguyên lơ lửng này, niêm mạc phế quản non nớt sẽ nhanh chóng phản ứng bằng hiện tượng viêm, tăng tiết dịch nhầy và co thắt, dẫn đến những cơn ho không dứt.
Mạt bụi nhà và nấm mốc bùng phát khi độ ẩm không khí tăng cao
Trong điều kiện sinh hoạt thông thường, mạt bụi nhà và nấm mốc luôn tồn tại với số lượng nhất định mà mắt thường không thể quan sát được. Mạt bụi là sinh vật siêu nhỏ thuộc lớp hình nhện, thức ăn chính của chúng là các mảnh da chết bong tróc từ cơ thể người tích tụ trên đệm, gối, ghế sofa. Trong khi đó, nấm mốc lại phát triển mạnh mẽ từ các bào tử trôi nổi, chỉ cần gặp bề mặt có độ ẩm thích hợp là nhanh chóng nảy mầm thành các mảng mốc bám ở chân tường, tủ gỗ hay rèm cửa.
Môi trường trong nhà đông đúc và ẩm ướt là điều kiện thuận lợi nhất để mạt bụi gia tăng mật độ [1]. Khi độ ẩm không khí trung bình vượt quá 50%, nồng độ dị nguyên mạt bụi trong nhà có xu hướng tăng cao rõ rệt [1]. Phân của mạt bụi, đặc biệt từ hai loài Dermatophagoides farinae và Dermatophagoides pteronyssinus, chính là nguồn chứa các protein dị nguyên chủ yếu gây kích ứng đường thở [1]. Kết hợp với sự phát tán liên tục của hàng triệu bào tử nấm mốc từ những góc nhà ẩm thấp, bầu không khí trong nhà mùa nồm trở thành nguồn phát tán dị nguyên liên tục bao vây hệ hô hấp của trẻ nhỏ.
Cơ chế kích ứng phế quản khiến trẻ ho và khò khè kéo dài
Đường hô hấp của trẻ nhỏ có đặc điểm giải phẫu là khẩu kính lòng phế quản hẹp, các tổ chức liên kết lỏng lẻo và hệ thống miễn dịch chưa hoàn thiện. Khi trẻ hít thở trong không gian chứa nồng độ cao protein từ phân mạt bụi hoặc bào tử nấm, các hạt dị nguyên này lắng đọng trên lớp niêm mạc lót trong đường dẫn khí. Ở những trẻ có cơ địa nhạy cảm, hệ miễn dịch sẽ nhận diện các phân tử này là kháng nguyên lạ và kích hoạt chuỗi phản ứng dị ứng thông qua kháng thể IgE.
Quá trình này giải phóng ồ ạt các hóa chất trung gian gây viêm, khiến các mạch máu dưới niêm mạc giãn nở và tăng tính thấm, dẫn đến phù nề niêm mạc phế quản. Đồng thời, các tuyến phế quản bị kích thích tăng tiết một lượng lớn chất nhầy đặc quánh làm bít tắc lòng đường thở. Sự kết hợp giữa phù nề, ứ đọng đờm nhớt và hiện tượng co thắt các sợi cơ trơn bao quanh phế quản làm lòng ống dẫn khí hẹp lại nghiêm trọng. Lúc này, phản xạ ho được kích hoạt như một cơ chế tự vệ nhằm tống xuất chất kích ứng và dịch đờm ra ngoài, đi kèm với tiếng thở rít hoặc khò khè khi luồng khí đi qua đoạn hẹp.
Các nghiên cứu quốc tế ghi nhận gì về tác động của mạt bụi nhà?
Ảnh hưởng của mạt bụi nhà đối với các đợt bùng phát triệu chứng hô hấp ở trẻ em đã được ghi nhận qua hàng loạt công trình y khoa trên thế giới. Một nghiên cứu công bố năm 1996 thực hiện tại New South Wales, Úc, đã khảo sát 6 mẫu ngẫu nhiên lớn gồm các trẻ em ở nhiều khu vực khác nhau nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa nồng độ kháng nguyên mạt bụi Der p I trong giường và độ nặng của bệnh hen [2]. Các nhà nghiên cứu đo lượng Der p I trong giường của khoảng 80 trẻ tại mỗi khu vực, đồng thời đánh giá tình trạng tăng phản ứng đường thở bằng nghiệm pháp hít histamine và thử lẩy da [2]. Kết quả cho thấy, ở những vùng có mức Der p I cao, tỷ lệ trẻ mẫn cảm với mạt bụi cao hơn rõ rệt, đồng thời các em này có mức độ tăng phản ứng đường thở và triệu chứng khò khè gần đây cao hơn [2]. Nguy cơ mắc bệnh hen hiện tại ở trẻ đã mẫn cảm với mạt bụi tăng gấp đôi tương ứng với mỗi lần nồng độ Der p I tăng gấp đôi [2]. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối tương quan khiêm tốn nhưng có ý nghĩa thống kê giữa tăng phản ứng đường thở và mức phơi nhiễm Der p I ở từng cá thể (r = 0,23, p < 0,03) [2].
Nghiên cứu Môi trường và Trẻ em Nhật Bản công bố năm 2021 đã theo dõi đoàn hệ trẻ nhỏ và ghi nhận mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa dị nguyên mạt bụi với sự phát triển của triệu chứng khò khè trong giai đoạn 0-12 tháng tuổi, cũng như bệnh hen trong giai đoạn 12-24 và 24-36 tháng tuổi [3]. Mặc dù tình trạng viêm đường hô hấp dưới trong giai đoạn 0-12 tháng tuổi có tác động rất mạnh đến nguy cơ khò khè (OR = 12,49; khoảng tin cậy 95%: 8,14 - 19,15) và bệnh hen (OR = 7,70; khoảng tin cậy 95%: 4,47 - 13,30), nhưng sau khi hiệu chỉnh các tác động nhiễm trùng này, mối liên hệ giữa dị nguyên mạt bụi và sự phát triển khò khè, hen vẫn giữ vững ý nghĩa thống kê [3]. Trong nghiên cứu này, các tác giả cũng nhắc đến nghiên cứu đoàn hệ tại Boston theo dõi trẻ đến 7 tuổi, cho thấy phơi nhiễm nội độc tố endotoxin trong bụi phòng sinh hoạt chung kết hợp với dị nguyên mạt bụi trong đệm làm gia tăng nguy cơ mắc hen lúc 7 tuổi và khò khè từ 1-7 tuổi [3].
Năm 2004, một nghiên cứu tại Thổ Nhĩ Kỳ đánh giá tình trạng mẫn cảm da ở 161 bệnh nhi hen nhũ nhi (tuổi trung vị 20 tháng) và 100 trẻ chứng khỏe mạnh (tuổi trung vị 18 tháng) [4]. Bằng kỹ thuật lẩy da, các nhà khoa học phát hiện 118 trẻ (chiếm 73,3%) trong nhóm bệnh có kết quả dương tính với mạt bụi nhà, trong khi tỷ lệ nhạy cảm với phấn hoa là 52,1% (84 trẻ), nấm mốc là 22,9% (37 trẻ) và sữa bò là 10% (16 trẻ) [4]. Tỷ lệ nhạy cảm với mạt bụi nhà ở nhóm trẻ hen nhũ nhi cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm trẻ khỏe mạnh [4]. Tỷ lệ mẫn cảm với các dị nguyên trong nhà nhìn chung cao hơn hẳn so với dị nguyên ngoài trời hay dị nguyên thực phẩm [4].
Tại Hoa Kỳ, một nghiên cứu năm 2003 trên 75 trẻ từ 2 tháng đến 10 tuổi tại phòng khám nhi nội thành cho thấy 37% trẻ có phản ứng da dương tính với ít nhất một dị nguyên đường thở [5]. Trong đó, mạt bụi là dị nguyên phổ biến nhất với tỷ lệ nhạy cảm 29%, tiếp theo là gián 15%, mèo 9%, nấm mốc 7%, cỏ 4%, cỏ phấn hương 3% và chó 1% [5]. Mặc dù mạt bụi xuất hiện nhiều nhất, nghiên cứu này ghi nhận chỉ có độ nhạy cảm với gián là có tương quan ý nghĩa thống kê với các đợt khò khè trước đó, khi có 7 trong số 11 trẻ (64%) nhạy cảm với gián có tiền sử khò khè so với 21 trên 64 trẻ (33%) âm tính [5].
Mối liên hệ mật thiết giữa nấm mốc và triệu chứng ho dai dẳng
Bên cạnh mạt bụi, nấm mốc sinh sôi trong nhà vào mùa nồm là thủ phạm trực tiếp gây kích ứng đường thở. Nghiên cứu thực hiện trên đoàn hệ 849 trẻ sơ sinh có anh chị em ruột bị hen trong giai đoạn 1998-2000 đã phân tích tác động của các chất ô nhiễm và nấm mốc lên các triệu chứng hô hấp trong năm đầu đời [6]. Tình trạng nấm mốc dai dẳng trong nhà làm gia tăng nguy cơ thở khò khè (OR = 2,27; khoảng tin cậy 95%: 1,27 - 4,07) và ho dai dẳng (OR = 1,83; khoảng tin cậy 95%: 1,04 - 3,22) ở những trẻ có mẹ mắc bệnh hen [6]. Đối với những trẻ có mẹ không mắc hen, nấm mốc dai dẳng vẫn làm tăng đáng kể nguy cơ ho kéo dài (OR = 1,55; khoảng tin cậy 95%: 1,04 - 2,31) [6]. Khi các nhà nghiên cứu tiến hành đo lường vi nấm thực tế trong nhà, mối liên hệ với triệu chứng khò khè ở trẻ sơ sinh tiếp tục được xác nhận (OR = 1,23; khoảng tin cậy 95%: 1,01 - 1,49) [6].
Quy mô rộng lớn hơn, dự án Ô nhiễm và Trẻ nhỏ thu thập dữ liệu về phơi nhiễm môi trường và sức khỏe trên 57.161 trẻ em từ 6 đến 12 tuổi tại 12 quốc gia khác nhau [1]. Kết quả phân tích cho thấy việc tiếp xúc với nấm mốc trong nhà có mối liên hệ rõ rệt với hàng loạt triệu chứng hô hấp như khò khè, ho về đêm, viêm mũi dị ứng và sự nhạy cảm với các dị nguyên hít [1]. Mặc dù vậy, hạn chế của nghiên cứu quy mô lớn này là dữ liệu dựa trên bảng câu hỏi tự báo cáo từ phụ huynh, đòi hỏi các phương pháp phát hiện vi nấm hiện đại hơn cần được mở rộng trong tương lai [1].
Dị nguyên mạt bụi ở nồng độ cao (từ 10 microg/g trở lên) đã được chứng minh làm tăng nguy cơ chẩn đoán hen suyễn ở trẻ nhỏ [1]. Việc mẫn cảm với dị nguyên mạt bụi ở trẻ mắc hen thường liên quan chặt chẽ tới việc gia tăng mức độ nặng của triệu chứng, khiến trẻ phải sử dụng thuốc cắt cơn nhiều hơn, tăng tần suất đi khám ngoại chẩn đột xuất và dễ nhập viện vì các đợt bùng phát [1]. Ngược lại, đối với trẻ từ 3 đến 17 tuổi đã được chẩn đoán hen và mẫn cảm với mạt bụi, việc tránh phơi nhiễm bằng cách sử dụng các bộ bọc đệm và ga trải giường chuyên dụng đã giúp trẻ giảm số lần bùng phát hen và mức độ các đợt phát bệnh cũng nhẹ hơn [7].
Những hiểu lầm thường gặp của cha mẹ khi thấy con ho mùa nồm
Hiểu lầm phổ biến nhất của các bậc phụ huynh là cho rằng trẻ ho nhiều vào mùa nồm hoàn toàn do nhiễm lạnh hoặc do vi khuẩn, từ đó vội vàng tự ý mua kháng sinh về cho trẻ uống. Kháng sinh chỉ có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn và hoàn toàn vô hiệu trước các phản ứng kích ứng đường thở do mạt bụi, nấm mốc hoặc nhiễm virus thông thường. Việc lạm dụng thuốc kháng sinh không giúp trẻ dứt cơn ho mà còn gây rối loạn hệ vi sinh đường ruột và làm tăng nguy cơ kháng thuốc nguy hiểm.
Một sai lầm khác là thói quen mở toang tất cả các cửa sổ trong nhà với hy vọng gió trời sẽ làm thông thoáng và khô ráo phòng ốc. Trong những ngày độ ẩm ngoài trời lên tới 90-100%, việc mở cửa chỉ khiến hơi ẩm từ bên ngoài ồ ạt tràn vào, làm sàn nhà đọng nước nặng hơn và tạo môi trường lý tưởng cho nấm mốc phát triển bùng nổ. Tương tự, việc bật quạt số lớn thốc thẳng vào sàn nhà ướt cũng không thể làm khô ráo không gian mà chỉ khiến các luồng khí cuốn theo phân mạt bụi và bào tử nấm lơ lửng nhiều hơn trong không khí, khiến trẻ hít phải nhiều hơn.
Ngoài ra, nhiều gia đình lại kiêng khem quá mức, đóng kín cửa nhưng không dùng bất kỳ biện pháp kiểm soát ẩm nào, dẫn đến không khí trong phòng tù đọng, bí bách và ngột ngạt. Bụi bặm tích tụ kết hợp cùng độ ẩm phòng kín biến chiếc giường ngủ của trẻ thành một "ổ dị nguyên", khiến các cơn ho kích ứng của trẻ càng trở nên dữ dội hơn vào ban đêm.
Nhóm trẻ nào cần đặc biệt thận trọng khi thời tiết nồm ẩm?
Trẻ sơ sinh và trẻ dưới 3 tuổi là đối tượng nhạy cảm nhất do đường thở nhỏ hẹp và hệ miễn dịch chưa hoàn thiện trước các tác nhân môi trường. Một nghiên cứu hồi cứu trong 4 năm tại trung tâm chuyên khoa lớn trên 432 trẻ từ 2 tuổi trở xuống được chẩn đoán hen (tuổi trung vị 1,21 tuổi) cho thấy tỷ lệ nhạy cảm với mạt bụi chỉ ở mức 3,2% đến 3,3% [8]. Tác giả nghiên cứu lưu ý rằng do tỷ lệ mẫn cảm dị nguyên đường thở ở trẻ dưới 2 tuổi khá thấp và khó tìm thấy yếu tố dự đoán, việc thử lẩy da không nhất thiết phải làm thường quy cho mọi trẻ hen nhỏ tuổi, nhưng khi có nghi ngờ cao trên lâm sàng thì việc kiểm tra các dị nguyên trong nhà như mạt bụi, nấm mốc và thú cưng sẽ giúp xác định phần lớn trẻ mẫn cảm [8].
Bên cạnh đó, những trẻ có chẩn đoán khò khè tái diễn, viêm tiểu phế quản trước đó hoặc mắc bệnh hen phế quản cần được theo dõi sát sao. Trẻ mắc hen nặng hoặc khò khè nặng khi phơi nhiễm với chính dị nguyên mà bản thân đã mẫn cảm sẽ biểu hiện các đợt khò khè thường xuyên hơn, mức độ nặng nề hơn và tỷ lệ phải nhập viện điều trị tăng cao [7]. Đối với trẻ em sống trong các gia đình có người thân mắc bệnh dị ứng hoặc người mẹ có tiền sử hen, phản ứng kích ứng của đường hô hấp trước nấm mốc và các chất ô nhiễm trong nhà có thể biểu hiện trầm trọng hơn với các cơn ho dai dẳng không dứt [6].
Các biện pháp kiểm soát môi trường giúp bảo vệ phế quản của trẻ
Để bảo vệ đường thở của trẻ nhỏ trong những ngày nồm ẩm kéo dài, việc kiểm soát vi khí hậu trong không gian sống là giải pháp căn cơ và hữu hiệu nhất:
- Duy trì độ ẩm an toàn: Sử dụng máy hút ẩm hoặc bật điều hòa ở chế độ hút ẩm (dry) để giữ độ ẩm tương đối trong phòng ở mức dưới 50-60%. Điều này giúp ức chế sự sinh sôi của mạt bụi nhà và ngăn chặn nấm mốc nảy mầm [1]. Khi độ ẩm ngoài trời tăng cao, gia đình nên đóng kín các cửa sổ và cửa ra vào để ngăn hơi nước xâm nhập.
- Vệ sinh giường đệm và chăn màn: Giặt ga trải giường, vỏ gối định kỳ bằng nước nóng trên 60 độ C để tiêu diệt mạt bụi và loại bỏ phân của chúng. Phụ huynh có thể cân nhắc trang bị các loại vỏ bọc đệm và gối chuyên dụng có khả năng ngăn ngừa dị nguyên mạt bụi xâm lấn [7]. Tránh sử dụng thảm trải sàn lông dày hoặc để nhiều thú nhồi bông xung quanh khu vực giường ngủ của trẻ nhỏ.
- Xử lý triệt để các góc nấm mốc: Thường xuyên kiểm tra các khu vực ẩm ướt như góc tường, chân tủ, rèm nhà tắm và lau sạch các vết nấm mốc mới xuất hiện bằng dung dịch vệ sinh chuyên dụng. Đảm bảo phòng tắm và khu vực nấu nướng luôn được thông gió tốt, bởi khói từ bếp đun và khí ô nhiễm như nitrogen dioxide cũng là tác nhân làm gia tăng chứng ho dai dẳng ở trẻ [6].
- Chăm sóc thể trạng cho trẻ: Cho trẻ uống đủ nước ấm để giữ ẩm đường hô hấp, làm loãng dịch nhầy và hỗ trợ niêm mạc phế quản đào thải dị vật dễ dàng hơn. Dinh dưỡng đầy đủ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ hệ miễn dịch của trẻ; các bằng chứng tổng hợp từ hai thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên theo dõi 3 năm cho thấy việc bổ sung vitamin D trong thai kỳ giúp giảm khoảng 25% nguy cơ mắc hen hoặc khò khè tái diễn ở trẻ lúc 3 tuổi, nhất là ở những thai phụ có nồng độ 25(OH)D dưới 30 ng/ml [7].
Cơn ho của trẻ khi thời tiết nồm ẩm không đơn thuần là phản ứng cảm mạo thoáng qua mà liên quan chặt chẽ đến sự gia tăng nồng độ dị nguyên mạt bụi và nấm mốc trong nhà. Việc phụ huynh hiểu đúng cơ chế kích ứng phế quản sẽ giúp tránh được thói quen lạm dụng thuốc không cần thiết, tập trung tối ưu hóa môi trường sống khô ráo và sạch sẽ. Khi trẻ xuất hiện các dấu hiệu cảnh báo như ho dữ dội, thở nhanh, thở rít, rút lõm lồng ngực hoặc sốt cao, gia đình cần nhanh chóng đưa trẻ đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được bác sĩ thăm khám và hướng dẫn phác đồ điều trị kịp thời.


