Dược liệuFelidae
Mèo
Felis ocreata domestica Brisson
Tên gọi khác: Mèo, Mèo nhà
Tác dụng tiêu thũng, chống lao lực, giải độc, giảm đau, chống co thắt, bổ dưỡng.
Cách sử dụng trong đời sống
- Thịt mèo được dùng chữa bệnh báng to bụng, lao, chóng mặt, trĩ mạn tính, mụn nhọt. Ngày dùng 50 – 100 g dưới dạng nấu chín ăn hoặc sấy khô, tán bột uống. Mật mèo đen ngâm rượu uống hàng ngày, chữa hen suyễn, đau bụng kinh niên. Xương mèo đen ngâm rượu uống là thuốc bổ, giảm đau nhức, dùng thích hợp cho người cao tuổi. Xương đầu mèo đốt thành tro, tán nhỏ, mỗi lần uống 12 g với rượu, chữa ho suyễn do đờm khí hoặc bôi ngoài chữa lở ngọc hành ở trẻ em (Nam dược thần hiệu). Các dân tộc ít người ở miền Bắc dùng thịt và dạ dày mèo rừng chữa cơ thể suy nhược, xanh xao, gầy yếu; xương mèo rừng ngâm rượu uống chữa đau nhức gân xương; mật mèo rừng pha chế thuốc chữa đau mắt. Theo các tài liệu cổ, phân mèo (miêu phẩn) sao khô là thuốc chữa chứng đậu, sởi ở trẻ em (Hải Thượng Lãn Ông trong Lĩnh nam bản thảo). Gan mèo đen thái nhỏ, phơi khô, tán bột, mỗi lần uống 4 g với rượu nhạt vào lúc đói chữa hư lao (Tuệ Tĩnh – Nam dược thần hiệu). Phổi mèo (1 bộ) băm nhỏ trộn với đọt lá sòi tía (80 g), ngũ vị tử (20 g) làm thành chả nướng hoặc hấp chín, ăn chữa hen suyễn. Nước đái mèo nhỏ vào tai sẽ làm cho con đỉa hoặc sâu bọ bò ra ngoài. Cách lấy nước đái mèo như sau: Bắt mèo, giữ chặt 4 chân, lấy vỏ bưởi xát vào đít hoặc gừng tươi xát vào lỗ mũi, mèo sẽ đái vọt ra, hứng lấy (Lương y Vũ Văn Kính). Ngoài ra, trong y học, mèo còn được dùng để thử tác dụng của thuốc chữa bệnh về tim như đối với các chế phẩm của dương địa hoàng (Digitalis purpurea); người ta dùng đơn vị “mèo” để nghiên cứu đánh giá…
