Cây an xoa (tên khoa học Helicteres hirsuta Lour.) được nhiều người truyền tai nhau sử dụng như bài thuốc dân gian hỗ trợ các vấn đề về gan. Tuy nhiên, không ít người sau khi uống nước sắc từ loại cây này gặp phải tình trạng ngứa rát cổ họng, cồn cào ruột gan hoặc khó chịu ở đường tiêu hóa.
Hiện tượng này bắt nguồn từ chính đặc điểm hình thái tự nhiên của cây an xoa: thân, cành và đặc biệt là quả của cây chứa một lớp lông tơ dày đặc. Khi không được sơ chế loại bỏ đúng cách, các sợi lông tơ này sẽ trôi vào nước sắc, gây kích ứng cơ học trực tiếp lên niêm mạc họng và dạ dày.
Lông tơ thảo dược: Thủ phạm gây ngứa họng và cồn cào
Tên khoa học của an xoa là Helicteres hirsuta, trong đó từ "hirsuta" trong tiếng Latinh có nghĩa là "rậm lông" hoặc "xù xì". Bề mặt lá, cành non và quả an xoa bao phủ lượng lớn lông nhỏ li ti sắc nhọn.
Khi người dùng chỉ băm nhỏ phơi khô rồi đun nấu trực tiếp mà bỏ qua khâu sao vàng hạ thổ hoặc lọc nước, những sợi lông tơ này không bị phá hủy hay giữ lại. Chúng hòa lẫn vào nước thuốc và đi vào cơ thể người uống.
Khi tiếp xúc với niêm mạc hầu họng, các sợi lông găm nhẹ vào biểu mô gây cảm giác ngứa ngáy, khó chịu, ho khan hoặc vướng đờm. Khi xuống tới dạ dày, lớp lông tiếp tục chà xát vào thành niêm mạc dạ dày và ruột, kích hoạt phản ứng co thắt, gây cảm giác cồn cào, xót ruột, thậm chí buồn nôn hoặc đi ngoài phân lỏng. Đây hoàn toàn là phản ứng kích ứng cơ học vật lý chứ không phải độc tính hóa học từ bản thân dịch chiết thảo mộc.
Dữ liệu khoa học: Hoạt chất có trong cây an xoa
Nghiên cứu về thành phần hóa thực vật của cây an xoa thu hái tại Việt Nam công bố năm 2020 đã phân lập và xác định cấu trúc của 12 chất chuyển hóa thứ cấp từ dịch chiết thân cây [1]. Các hợp chất này bao gồm axit 3-O-trans-caffeoylbetulinic (1), axit 3beta-benzoylbetulinic (2 - một sản phẩm tự nhiên mới được phát hiện), este metyl của axit betulinic (3), axit betulinic (4), lupeol (5), axit 4-hydroxybenzoic (6), este metyl của axit 3,4-dihydroxybenzoic (7), axit 4-hydroxy-3,5-dimethoxybenzoic (8), 5,8-dihydroxy-7,4'-dimethoxyflavone (9), isoscutellarein 4'-methyl ether 8-O-beta-D-glucopyranoside (10), metyl caffeate (11) và stigmasterol (12) [1].
Các thử nghiệm độc tính tế bào trong ống nghiệm (in vitro) đối với 5 dòng tế bào ung thư (gồm Hela, HepG2, SK-LU-1, AGS và SK-MEL-2) cho thấy các hợp chất mang số thứ tự 1, 3, 4, 5 và 9 thể hiện hoạt tính gây độc tế bào ở mức độ trung bình [1].
Trước đó, một công trình công bố năm 2006 phân lập từ thân cây an xoa thu thập tại Indonesia sáu hợp chất lignan, gồm (+/-)-pinoresinol, (+/-)-medioresinol, (+/-)-syringaresinol, (-)-boehmenan, (-)-boehmenan H và (+/-)-trans-dihydrodiconiferyl alcohol [2]. Trong số các chất này, (+/-)-pinoresinol thể hiện tác dụng gây độc tế bào mạnh khi đánh giá trên một nhóm nhỏ các dòng tế bào ung thư [2].
Năm 2020, một nghiên cứu khác tập trung khảo sát các phân đoạn dịch chiết giàu saponin từ thân cây an xoa bằng kỹ thuật sắc ký lỏng hiệu năng cao pha đảo (RP-HPLC) nhằm đánh giá hoạt tính chống ung thư tụy trong ống nghiệm [3]. Ngoại trừ phân đoạn F0, năm phân đoạn từ F1 đến F5 thể hiện hoạt tính ức chế mạnh tế bào ung thư tụy với giá trị IC50 dao động từ 3,11 đến 17,12 microgam/mL [3]. Phân tích tế bào dòng chảy cho thấy các phân đoạn hoạt tính này làm ngừng chu kỳ tế bào ở pha S và thúc đẩy quá trình tự chết (apoptosis) của dòng tế bào ung thư tụy MIAPaCa-2 [3]. Phân tích sắc ký khối phổ LC/MS ghi nhận các phân đoạn này chứa nhiều hợp chất hoạt tính sinh học như axit caffeic, axit rosmarinic, axit sagerinic, axit usnic, cucurbitacins và absinthin [3].
Về mặt di truyền thực vật, nghiên cứu năm 2024 đã giải mã hoàn chỉnh hệ gen lục lạp của loài an xoa Helicteres hirsuta Lour. 1790 [4]. Hệ gen lục lạp này có chiều dài 163.404 cặp base (bp) và chứa 113 gen đặc trưng (bao gồm 79 gen mã hóa protein, 30 gen tRNA và 4 gen rRNA) [4]. Đáng chú ý, hai intron của gen clpP ở loài an xoa này đã bị tiêu biến so với các loài khác cùng phân họ, đồng thời phân tích phát sinh loài chỉ ra an xoa có quan hệ họ hàng gần gũi với các loài thuộc chi Reevesia [4].
Độc tính đường uống: Cần phân biệt rõ lông tơ và dịch chiết
Để hiểu rõ hiện tượng kích ứng tiêu hóa và tiêu chảy khi dùng cây thuộc chi Helicteres, một nghiên cứu độc tính thực hiện năm 2014 trên dịch chiết cồn-nước (70%) của loài thảo dược cùng chi là Helicteres sacarolha cung cấp nhiều thông tin tham khảo giá trị [5]. Nghiên cứu này đánh giá độc tính cấp và độc tính bán trường diễn trên động vật gặm nhấm [5].
Trong thử nghiệm độc tính tế bào, dịch chiết không gây độc cho tế bào CHO-k1 [5]. Khi thử nghiệm độc tính đường uống cấp tính trên chuột nhắt trắng với liều duy nhất lên tới 5000 mg/kg trọng lượng cơ thể, chuột cái không có trường hợp nào tử vong và không có biến đổi lâm sàng nào ngoại trừ hiện tượng tiêu chảy thoáng qua xuất hiện ở liều cao nhất 5000 mg/kg [5].
Đối với chuột đực, liều uống lên tới 2000 mg/kg không gây tử vong hay biểu hiện lâm sàng liên quan đến điều trị, nhưng ở mức 4000 mg/kg đã xuất hiện biến đổi lâm sàng và ghi nhận trường hợp tử vong ở liều 5000 mg/kg [5].
Trong thử nghiệm độc tính bán trường diễn kéo dài 30 ngày trên chuột cống Wistar với các liều uống hàng ngày là 0, 250 và 750 mg/kg trọng lượng cơ thể, không có chuột nào bị chết và không xuất hiện dấu hiệu lâm sàng bất thường [5]. Khối lượng cơ quan tương đối, các chỉ số huyết học và hình ảnh mô bệnh học giữa nhóm dùng dịch chiết và nhóm đối chứng không có sự khác biệt liên quan đến tác động của thuốc [5].
Dữ liệu này cho thấy các biểu hiện bất thường trên đường tiêu hóa khi dùng liều lượng không phù hợp có thể xảy ra, nhưng tình trạng cồn cào ngứa ngáy tức thì phần lớn bắt nguồn từ kích ứng cơ học của lớp lông chưa được làm sạch.
Hiểu lầm thường gặp khi dùng cây an xoa
Nhiều người lầm tưởng rằng uống nước thảo mộc càng cồn cào, càng ngứa họng hay đi ngoài nhiều thì tức là cơ thể "đang đào thải độc tố" hoặc "thuốc đang phát huy tác dụng". Đây là quan niệm sai lầm, tiềm ẩn nguy cơ gây viêm loét dạ dày tá tràng.
Cảm giác ngứa ngáy và đau rát thực chất là phản ứng viêm niêm mạc do sự cọ xát của dị vật lông tơ. Nếu để tình trạng này kéo dài, đường tiêu hóa sẽ bị tổn thương biểu mô mạn tính.
Một hiểu lầm khác là cho rằng các hoạt tính sinh học trong phòng thí nghiệm đồng nghĩa với việc an xoa có thể thay thế thuốc chữa bệnh gan hay ung thư. Cần lưu ý các nghiên cứu ghi nhận hoạt tính gây độc tế bào ung thư [2], [1], [3] mới dừng lại ở quy mô thử nghiệm ống nghiệm (in vitro), chưa đủ bằng chứng lâm sàng trên người sống. Do đó, người bệnh không tự ý bỏ phác đồ điều trị y khoa để chỉ uống nước cây an xoa.
Ai nên thận trọng khi sử dụng?
Nhóm người có tiền sử viêm loét dạ dày tá tràng, trào ngược dạ dày thực quản cần hết sức cẩn trọng. Lớp lông tơ sót lại hoặc các hoạt chất kích thích có thể làm trầm trọng thêm các vết loét, gây đau thượng vị dữ dội.
Những người có cơ địa dị ứng, viêm họng mạn tính hoặc nhạy cảm niêm mạc đường hô hấp trên dễ bị kích phát cơn ho co thắt khi nuốt phải các vi lông của thảo dược.
Phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú và trẻ nhỏ không nên tự ý dùng các loại nước sắc thảo dược chưa có chứng minh an toàn toàn diện trên người. Người đang điều trị bệnh lý gan mạn tính hoặc dùng thuốc chuyển hóa qua gan cần tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị để tránh tương tác bất lợi.
Cách xử lý cơ học triệt để trước khi sắc uống
Để loại bỏ hoàn toàn nguy cơ ngứa họng và cồn cào ruột do lông tơ của an xoa, khâu sơ chế cần tuân thủ nghiêm ngặt các bước cơ học sau:
Thứ nhất, phân loại và làm sạch thô. Khi thu hái hoặc mua dược liệu khô, cần loại bỏ các quả an xoa già vì quả là nơi tập trung mật độ lông dày nhất. Rửa dược liệu nhiều lần dưới vòi nước chảy để trôi bớt bụi bẩn và lông rụng.
Thứ hai, sao vàng hạ thổ. Đây là công đoạn bắt buộc trong kinh nghiệm chế biến thảo dược truyền thống. Đưa an xoa đã thái lát mỏng vào chảo gang, đảo đều tay trên lửa nhỏ cho đến khi dược liệu chuyển sang màu vàng xém cạnh và có mùi thơm. Nhiệt độ cao trong quá trình sao sẽ làm cháy vụn, giòn gãy và triệt tiêu hầu hết các sợi lông tơ bám trên thân và lá cây. Sau khi sao vàng, đổ dược liệu ra một mảnh vải sạch trải trên mặt đất sạch (hạ thổ) cho nguội tự nhiên.
Thứ ba, lọc nước sắc qua màng lọc mịn. Sau khi sắc thuốc xong, không nên rót trực tiếp nước uống vào cốc. Hãy dùng một tấm vải màn sạch (loại vải xô nhiều lớp) hoặc màng lọc trà chuyên dụng để lọc toàn bộ phần nước sắc. Thao tác này giúp giữ lại những sợi lông tơ li ti còn sót lại trong nước, giúp nước trong và êm dịu cho cổ họng.
Nên bắt đầu uống với liều lượng nhỏ, pha loãng và quan sát phản ứng cơ thể trước khi duy trì cữ uống thường quy. Tuyệt đối không uống nước sắc thảo mộc khi bụng đang quá đói.
Cây an xoa chứa nhiều hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học đáng chú ý, nhưng việc sử dụng tùy tiện không qua sơ chế có thể gây khó chịu cho cơ thể. Xử lý triệt để lớp lông tơ bằng cách sao vàng và lọc bã kỹ lưỡng là bước bảo vệ niêm mạc họng và dạ dày. Khi gặp các triệu chứng tiêu hóa dai dẳng hoặc có bệnh lý nền mạn tính, người dùng cần ngưng sử dụng và thăm khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa.


